Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016

Chùm thơ về Hà Tĩnh


NGHI XUÂN

Bến sông ngợp gió Tiên Điền
Chòng trành đôi mảnh ngư thuyền dòng Rum
Đâu rồi đỉnh Hống xanh um
Chỉ còn giọt lệ bay trùm Hoan Châu
Cúi nhìn mặt nước trôi mau
Làm thơ chi nữa, thêm sầu Tố Như !…

***
KỲ ANH
Con đi qua huyện Kỳ Anh
Chợt nhớ Cụ, xót dân lành bơ vơ
Con thuyền chết lặng trên bờ
Rêu đen đang phủ xóa mờ đại dương
Bóng Người quanh quất đêm trường
Khóc cùng Dân, hóa chữ Thương ngàn đời…
                   
Đạo diễn – Nhà thơ Nguyễn Anh Tuấn
 


Thứ Ba, 6 tháng 9, 2016

Mấy khúc Haiku mùa hè 2016



        Ngôi nhà cũ
        người bỏ đi
        nhện dăng tơ khung cửa

      The old deserted house
      we left from without a word
      the spriders still silently spread the coburb

                                                            Lê Văn Truyền
      
Trong cuộc đời, có khi vì một lý do nào đó ta phải rời bỏ ngôi nhà cũ, ngôi nhà đã chứng kiến những ngày ta lớn lên và gắn bó với bao kỷ niệm vui buồn, để đến một nơi ở mới. Ta có thể mang theo những của cải quý giá, những vật dụng cần thiết nhưng không ai có thể mang theo được những kỷ niệm thân thương gắn liền với nơi ta đã lớn lên và đã sống. Ta có thể mang theo con mèo, con chó … những vật nuôi gắn bó với cuộc sống của ta nhưng không ai mang theo được tiếng thạch sùng tắc lưỡi đêm đêm trên trần nhà, tiếng dế rả rích dưới chân tường, tiếng những con mọt nghiến kẽo kẹt trong vách gỗ, và cả tiếng ễnh ương da diết gọi tình ngoài vườn trong những cơn mưa đêm hè … Và ta vô tâm bỏ lại những con nhện nhỏ bé, xấu xí vẫn lặng lẽ cần mẫn dệt tơ trên khung cửa sổ để bắt con ruồi, con muỗi mà nhiều khi những mạng nhện này đã làm ta rất bực mình khi dọn dẹp nhà cửa.

Rồi cho đến một ngày ta trở lại ngôi nhà lạnh lẽo, và lòng bỗng ấm lên khi thấy trong ngôi nhà trống rỗng, bất kể sáng tối, ngày đêm dù có ta hay không có ta ở đó, những con nhện nhỏ bé, xấu xí ấy vẫn chung thủy, kiên nhẫn, âm thầm dệt tơ trên khung cửa. Có phải ai ai trong tất cả trong chúng ta cũng đều có thể làm được toàn những việc thật lớn lao trong suốt cuộc đời? Chúng ta chỉ sống một cuộc đời thật hữu hạn với năng lực thật hữu hạn. Nhưng xin đừng phiền muộn. Nếu ta để tâm đến những sinh vật như những chú côn trùng, bất cần về sự nhỏ bé, mong manh và hữu hạn của chúng trên mặt đất, vẫn vô tư và cần mẫn làm công việc của mình, sống trọn vẹn cuộc sống của mình, ta bỗng ngộ ra rằng chỉ cần làm được những việc nhỏ bé để thấy mình đang được sống, đang tồn tại cũng đã là niềm hạnh phúc lớn lao mà Trời Đất ban cho ta rồi.
                                                                                                T. T.

                                         Chiếc quạt mo cau
                                            âu yếm tấm thân tôi già cỗi
                                            làn gió tuổi ấu thơ

      The areca spathe fan
      caressing my exhausted body  
      with the childhood wind

                                    Lê Văn Truyền

Cách nay mấy chục năm, đặc biệt trong thời chiến tranh, nhiều vùng quê miền Trung nắng như đổ lửa và người ta chỉ được hưởng làn gió mát lành từ những cánh đồng lúa, từ mảnh vườn xôn xao cây lá và từ tấm quạt mo. Những cây cau trong vườn cho ta những buồng cau, lễ vật thiêng liêng của những ngày giỗ, ngày Tết, và buồng cau cùng với lá trầu – lễ vật thiêng liêng của tình yêu và hôn nhân. Hoa cau rụng trắng bên thềm trong những đêm trăng sáng cho ta làn hương nhẹ nhàng, thanh tao. Trong những ngày đói kém, đôi khi buồng hoa cau non được luộc lên thay rau xanh, ăn vào người thấy ngọt ngọt, lâng lâng như có men say.

Thân cây cau già chết khô được xẻ làm đôi, khoét ruột để làm ống máng hứng nước mưa từ mái tranh vào những lu, chum đựng nước đầu chái nhà, cho ta những gáo nước mát lành giải cơn khát giữa trưa hè oi bức. Và tầu lá cau già, thỉnh thoảng đột ngột rụng trong đêm vắng, tạo nên một tiếng vang như nhắc nhở sự hiện diện của quy luật tự nhiên lá già phải rụng xuống nhường chỗ cho lá non đâm chồi. Sáng hôm sau, bà tôi lượm tầu lá cau, chặt lấy chiếc mo, cắt thành một tấm quạt, đem phơi ngoài sân nắng sau khi chặn bằng mấy hòn gạch cho tấm mo khỏi cong. Từ tay bà, chiếc quạt mo đã cho tôi làn gió mát thoang thoảng hương cau trong những buổi trưa hè đổ lửa, những đêm tháng năm, tháng sáu oi bức, ngột ngạt và những lúc làn da tôi hừng hực, vầng trán hâm hấp mồ hôi vì những cơn sốt mà bà tôi thường gọi là sốt “vỡ da” của tuổi ấu thơ.

Một buổi trưa hè năm nay, trong một làng nhỏ miền Trung, tôi thấy chiếc quạt mo lặng lẽ nằm trên chiếc chõng tre ngoài hiên nhà. Cầm chiếc quạt mo phe phẩy, một làn gió tuổi thơ bỗng ôm ấp tấm thân già cỗi của tôi và tim tôi bỗng trào dâng một cảm xúc trẻ trung, thân quen khó nói nên lời.
                                                                                                            T. T.

        Núm vung nồi đất cổ
        núm vú mẹ ngàn đời
        trẻ mân mê mỗi tối
       
        The teat of clay pot cover
        vietnamese mum nipples
        babies finger every night

                                    Lê Văn Truyền

Thăm lò gốm trong một làng cổ miền Trung, ở đó người ta vẫn làm những vật dụng bằng đất nung: ba ông Táo để xếp thành cái bếp, chum vại đựng nước, bộ ấm chén uống trà… Nhưng nhiều nhất vẫn là những chiếc nồi đất đủ cỡ để nấu cơm, để kho cá… Nồi phải đi liền với vung, “nồi nào vung ấy”, “nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo” như một lẽ công bằng và lẽ tương hợp tự nhiên của Trời Đất. Nồi phải luôn luôn có vung, và vung phải luôn luôn có núm. Núm của những cái vung nồi đất phải chăng là hình tượng chiếc núm vú của người phụ nữ Việt Nam. Có những núm vung nhỏ nhắn như những núm vú chõm cau của các thiếu nữ tuổi dậy thì. Có những núm vung đầy đặn, phồn thực như của những bầu sữa những bà mẹ trẻ đầy sức sống. Và có những núm vung méo mó, teo tóp như của bầu sữa những bà mẹ nghèo đã rút hết ruột gan, máu thịt của mình chắt ra những giọt sữa nuôi cả bầy con khôn lớn để hiến dâng cho Đất Nước.

Trong “thời đại công nghiệp” hiện nay, thời đại của sắt thép, tại sao những người thợ gốm Việt Nam không sáng tạo ra một “cơ cấu” đặc biệt nào đó cho cái vung để thuận tiện khi sử dụng chúng mà từ hàng ngàn năm cho đến giờ, vẫn nặn một cái núm cho chiếc vung đất??? Chắc hẳn khi nặn những chiếc núm vung, người thợ gốm vẫn nhớ đến chiếc núm vú của mẹ mà tuổi ấu thơ được mân mê mỗi tối. Phải chăng là để mỗi khi sờ vào cái núm vung ta phải luôn nhớ ơn đôi núm vú và bầu sữa của những bà mẹ, dù giàu hay nghèo, dù sang hay hèn, đã nuôi ta khôn lớn thành người.
T. T.




Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Vị tình yêu




Bản tình ca giao hưởng mùa Xuân
Rạng rỡ hoa cười tươi ngời sắc nắng
Những vần thơ ngân rung nốt nhạc
Vị tình yêu lắng đọng trong lời
Ngọt ngào ấm áp lắm anh ơi!
Cho trái tim sớm chiều rực lửa
Thắp sáng cả hai đầu thương nhớ
Cháy cồn cào khi ta nghĩ về nhau

Bùi Nguyệt

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

Lời thu

                                                                                                  Bùi Cửu Trường


Ta ủ trời thu giữa heo may
Thu lá khẽ lơi ấp đất gầy
Hồn thu ngan ngát hương thu lặng
Rượu đẫm men tình thu đắm say.
Ta nhặt ban mai ánh thu vàng
Lửa thu le lói sắc hồng hoang
Đưa ai về lại thơ ngây ấy
Thu thoáng xôi xa, thoáng ngỡ ngàng.
Mưa rớt bờ vai thu bông lau
Tóc xanh ngày cũ đã phai màu
Vành tai gió gợn rơi giọt lạnh
Bóng lệch nhoà nghiêng thu đêm sâu.
Mây trắng mong manh, nắng mơ màng
Mang mang vòm biếc nức hương lan
Tình loang loang sóng xô dào dạt
Mình nhé!
Cùng thu
Ta sang ngang!

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Khúc giao mùa

                                                                                           Lý Viễn Giao



Bờ mây theo gió dạt về đâu
Thả xuống nhân gian những giọt sầu
Thu đến dăng mưa mờ bóng nước
Hạ đi hớt nắng xám vai cầu
Thôi đừng khóc mướn cho đèn phượng
Cũng bỏ thương vay với lệ Ngâu
Tước bẹ chuối khô đan rọ thị 
Hết thơm lấy hạt ngậm thay trầu

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016

Đêm bánh tôm Hồ Tây



ĐÊM BÁNH TÔM HỒ TÂY
                                                                                           Lê Quang Vinh

Bài thơ thuộc loại hay nhất viết về Hồ Tây và sản vật, có lẽ cả từ xa xưa nữa.
Câu mở đầu "Nghiêng phía anh Tây Hồ tóc gió", ngỡ bình thường (như câu nói thường), mà lại rất "thơ" ("phía anh", "tóc gió": hữu hạn và vô hạn hòa quyện nhau), khiến ý thơ bay bổng, lãng mạn lên vô cùng. Cả cái chữ "nghiêng" ni nữa, thật vô lý. "Nghiêng" sao được chứ? Thế mà, khi nó "nằm" ở đầu câu thơ (này) thì lại rất "có lý" (đúng) như trong tục ngữ "Tát biển Đông cũng cạn" ấy! Chú ý: "nghiêng" và "tát" đứng đầu câu, như điểm đầu của "cánh tay đòn bẩy" với "lực đè phi thường" được dồn về đây, đối trọng là "vật bẩy" - cái vô biên phía bên kia điểm tựa (Hồ Tây, biển Đông).Trong văn chương, hiểu nôm na đây là cách "tu từ" dân gian (lối viết truyền thống, bình dân - nhưng phải cao tay mới được: "thậm xưng").
Tiếp đến, "Bánh tôm thơm da thịt Thủ Đô" - dùng các từ "thông tục" (bánh tôm, da thịt) rồi cho chữ "thơm" vào nối giữa hai từ này như "chất xúc tác", tạo nên một phản ứng "hóa học" thực sự về ngữ nghĩa, khiến nó mặc sức biến hóa (thoát xác) mà (từ bình thường) trở nên "cao sang" trong câu thơ. Đây là điều cần thiết, vì nơi đây là đất "kinh kỳ" xa xưa, nay là Thủ đô của cả nước, phải có sự thăng hoa "cao cấp" như vậy mới xứng, khi viết về một món ăn không thể "bình dân" hơn của mọi thời Hà Nội (đạn bom, bao cấp, hòa bình, đổi mới... tiến lên "CNXH"): "Bánh tôm thơm da thịt Thủ Đô".
Tôi vô cùng phục cái cách dùng từ "da thịt" ở đây. Nhờ "chế biến" quá khéo của Ngô Minh, nó trở nên siêu phàm rồi, chứ đâu là "da thịt" (nhục dục nguyên thủy) nữa? Ấy là tài chọn tứ, lựa chữ của Thi sĩ tài danh.
Ngày nay, tiếng thơm bánh tôm Hồ Tây - Hà Nội được lan tỏa và bay xa tới tít tắp khắp ba miền đất nước, tới "năm châu bốn biển" địa cầu; một phần không nhỏ có sự đóng góp vô tư của các nghệ sĩ - thi văn sĩ tài danh đã sáng tạo nên những khúc hát, vần thơ, áng văn da diết, tỉ mỉ về món ẩm thực vốn "hạ đẳng" của người ven đô này để dần dà thành "món ngon Hà Nội" - dấu ấn trong tâm hồn, là "di sản" của mỗi con người khi có dịp vãng qua đây ("Bánh tôm em- di sản đời mình")...
Những nhà thơ, nhà văn tên tuổi; khi sáng tạo nghệ thuật, họ không "bó mình", "khổ luyện", tìm "trăm phương ngàn kế" để làm nên những điều ta thấy rất "cầu kỳ" như vừa nêu trong Comment của Nhà báo LQV ở phía trên. Văn thi - nhạc sĩ...làm thơ văn, làm nhạc...như "chơi"! Ở đó là sự thăng hoa kỳ diệu (của sự kết hợp) giữa cảm xúc và kỹ năng nghệ thuật. Như vậy, kỹ năng nghệ thuật đã trở thành phẩm chất trong lý trí, tình cảm của các nhà sáng tạo rồi. Họ sáng tạo mà như..."vô thức" trước các thủ pháp nghệ thuật mà vẫn rất..."Nghệ thuật" là vậy. Thi sĩ Ngô Mình thuộc VNS loại này.
Nhiều thứ nữa, hẹn anh Ngô Minh và bạn đọc, LQV sẽ thưa sau...; giờ dành thời gian cho mọi người thưởng thức bài thơ đã .


ĐÊM BÁNH TÔM HỒ TÂY
                                          
                                              NGÔ MINH

nghiêng phía anh Tây Hồ tóc gió
bánh tôm thơm da thịt Thủ Đô
liễu rũ như mời sóng vồ vập gọi
chớm thu rồi thèm nụ thơm xưa
đêm sâm cầm sao trời vỗ cánh
em rót ly nếp cẩm Đất Trời
nhấm với ánh nhìn nụ em diệu vợi
ơI đèn đường tắt đỏ ngất ngây
bánh tôm đêm lòng hồ khép mở
gió thao thao như gọi như tìm
mai anh Huế rồi thèm rồi nhớ
bánh tôm em- di sản đời mình
            
                                       Huế 8-2016

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016

Trong nỗi buồn



Khi mình buồn
ta không có mặt.
Và hạnh phúc
cũng như
như bong bóng xà phòng.
Giông mưa chiều
lấp lánh cầu vồng
nối khoảng không -
khoảng không không có thật!
*
Khi ta buồn
buồn dâng cay khoé mắt
mông lung đau
đau thắt
nỗi
ai hoài.
Đơn côi ta
Đơn côi mình
Đơn côi nắng mai
Kết hừng đông đỏ.
Vạt nắng dài
vạt nắng dài
dài
hoàng hôn lỡ dở...
Có tan nỗi buồn không?!
                                                 Hat Cat