Trăm
năm trong cõi người ta
Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau
(Nguyễn Du)
Suy từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người tài
hoa là người bạc mệnh, kẻ hồng nhan thường đa truân. Nhìn vào làng nhạc, nhạc
sĩ Đặng Thế Phong là điển hình rõ nét nhất.
Đặng
Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Ông là con trai Đặng Hiển Thế,
thông phán Sở Trước bạ Nam Định. Thân phụ ông chẳng may mất sớm, gia đình túng
thiểu, ông phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième
année primaire supérieure, nay là lớp bảy cấp hai phổ thông). Vướng vào cái
nghiệp văn nghệ từ thủa còn nhỏ nên ông đã lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương (Ecole supérieure de Beanx Arts) với tư cách bàng thính
viên (auditeur libre). Đặng Thế Phong đã thực sự lấy nghề nuôi nghiệp: thời
gian theo học này, ông đã phải vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ báo là nhà văn
Phạm Cao Củng) để có tiền ăn học. Trong một kỳ thi, ông đã vẽ một bức tranh cây
cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, giáo sư Tardieu, thầy dạy ông đã
nói rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!
Ông
đã phiêu du vào Sài Gòn rồi sang Nam Vang vào đầu năm 1941 và mở một lớp dạy
nhạc tại kinh đô xứ Chùa Tháp cho đến mùa thu 1941 ông lại trở về Hà Nội.
Cũng
giống như Mozart lúc sinh thời, Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo, nên
cuộc sống của ông chật vật. Ngoài tài làm nhạc, vẽ tranh, ông còn có giọng hát
khá hay, tuy chưa được là Ténor nhưng cũng được khán giả hâm mộ. Lần đầu tiên
ông lên sân khấu, hát bài Con Thuyền Không Bến tại rạp chiếu
bóng Olympia (phố Hàng Da Hà Nội) vào năm 1940, được hoan nghênh nhiệt liệt.
Đặng Thế Phong là một thiên tài, nhưng vẫn không
có được cuộc sống sung túc giữa cố đô Thăng Long lúc bấy giờ vì nhạc và tranh
dù có hay, có đẹp đến mấy chăng nữa cũng chẳng có mấy ai mua.
Thời
ấy, chính quyền bảo hộ Pháp có mở một phòng triến lãm tranh tại hội Khai Trí
Tiến Đức, khu Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Sau lễ khai mạc được ông Đốc Lý thành phố Hà Nội
đến cắt băng, người ta thấy những người đến xem tranh phần rất lớn toàn là ông
Tây, bà đầm, còn người Việt thì đúng là lơ thơ tơ liễu buông mành, nhìn kỹ thấy
toàn là các quan ta, những công chức cao cấp, giới trí thức, thượng lưu chứ
chẳng thấy một dân thường nào! Ngoài ra, thời bấy giờ chính quyền Pháp có tổ
chức mở phòng triển lãm là bảo trợ cho các hoạ sĩ Pháp trưng bày tranh của mình
còn hoạ sĩ Việt Nam thì số người lọt được vào, ta có thể đếm trên đầu ngón tay.
Đến nhạc thì nếu có in, mỗi lần xuất bản cũng chỉ in nhiều nhất là 500 bản, dân
chúng chưa yêu chuộng nhạc cải cách (tân nhạc) nên dù có thực tài thì cũng
không thể có được một cuộc sống sung túc nếu nhờ vào sức lao động nghệ thuật!
Đặng
Thế Phong phải chịu một cuộc sống khó khăn, chật vật trong "kiếp con tằm
đến thác vẫn còn vương tơ" cho đến đầu năm 1942, ông từ giã cõi đời tại
căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng Nam Định vì bệnh lao màng (tuberculose
péritonique), hưởng dương 24 tuổi, tuổi son trẻ, đầy thơ mộng, sắp bước vào
thời xây dựng sự nghiệp (tam thập nhi lập).
Cuộc
đời của Đặng Thế Phong thật quá ngắn ngủi nhưng đời sống tinh thần của ông rất
phong phú và thi vị. Nhờ thế mà tuy sáng tác chỉ có ba bài: Con Thuyền
Không Bến, Đêm Thu và Giọt Mưa Thu nhưng bài nào cũng trở thành vĩnh cửu, qua
hơn nửa thế kỷ vẫn là những bài hay nhất của làng nhạc Việt Nam. Nhạc hứng chân
thành đều phát xuất từ con tim, vì thế mà sáng tác của ông có hồn, đi vào lòng
người và sống mãi ! Qua Đặng Thế Phong, ta chứng minh được văn nghệ tính phẩm
chứ không tính lượng (quý hồ tinh bất quý hồ đa) . Con người làm văn nghệ viết
được một câu để đời đã là khó, được một tác phẩm để đời là đáng mãn nguyện lắm
rồi . Với âm nhạc, người chuyên sử dụng một nhạc cụ cho thật điêu luyện được
tôn kính hơn là người biết sử dụng nhiều thứ đàn, chẳng thế nào có được một thứ
thật tuyệt hảo. Về sáng tác cũng vậy, làm cho nhiều, cố nặn cho lắm, thể điệu
nào cũng có bài thì dù viết cả ngàn bài chưa chắc đă có lấy một bài có giá trị
nghệ thuật và vĩnh cửu! Chỉ sáng tác có ba bài thôi, Đặng Thế Phong đã sống mãi
trong lòng mọi người, chắc chắn là hơn người có cả ba trăm bài mà chẳng có một
bài nào để người ta nhớ !
Với
nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, muốn thành công là phải có tài năng
thiên phú chứ không thể nhờ vào thời gian, kiên nhẫn, sách vở, trường lớp hay
bằng cấp mà đạt được! Vì thế chúng tôi dám tôn vinh Đặng Thế Phong là một thiên
tài của làng nhạc Việt, thật không ngoa.
Cuộc
đời Đặng Thế Phong đã có được một mối tình thật chung thủy tuyệt đẹp. Khi còn ở
Nam Định, Đặng Thế Phong đã đem lòng yêu một thiếu nữ buôn bán ở Chợ Sắt, chợ
duy nhất và lớn nhất của thành phố. Cô này không đẹp nhưng lại rất có
duyên. Sau nhiều ngày đi chơi chợ, Đặng Thế Phong đã lọt vào mắt mỹ nhân. Cặp
tình nhân trai tài, gái đảm đã dìu nhau vào cuộc tình thật trong sáng và cao
thượng! Điều đáng ca ngợi là chàng nhạc sĩ tài hoa họ Đặng không bao giờ đụng
chạm đến đồng tiền của người yêu, dù cho người đẹp, tên Tuyết, nhiều lần khôn
khéo bày tỏ lòng mình muốn giúp chàng. Những buổi chiều trời quang, mây tạnh
hay gió mát, trăng thanh, hai người đều dìu nhau trên những con đường ngoại ô
để tâm tình. Thời bấy giờ, nhiều thanh niên rất ngưỡng mô. Đặng Thế Phong, khi
biết mối tình của cặp Phong - Tuyết, đều mến trọng và tôn kính là một cuộc tình
lý tưởng!
Đặc
biệt nhất là mấy cô gái phố Hàng Đồng, gia đình rất khá giả tỏ lòng yêu mến
Đặng Thế Phong, nhưng ông vẫn một lòng yêu cô Tuyết, dù cô không đẹp bằng mấy
cô kia . Có một hôm, mấy cô kia đang đứng nói chuyện với nhau thấy Đặng Thế
Phong đi qua, với lối đi có vẻ vội vã. Thấy bóng ông, mấy cô ngưng bặt, rồi
chẳng ai bảo ai, tất cả ánh mắt đều hướng về ông như dán chặt vào người ông
vậy. Khi Đặng Thế Phong vừa bước tới ngang chỗ các cô thì một giọng nói đầy hờn
dỗi pha thêm mai mỉa, được nói lớn lên, cố ý cho Đặng Thế Phong nghe thấy: “ Mấy chị đứng dịch ra, người ta
đi vội kẻo trễ hẹn !”
Đặng
Thế Phong nghe rõ nhưng coi như điếc, cứ rảo bước như không có gì xảy ra. Đến
nơi hẹn, gặp cô Tuyết đã đứng chờ, Đặng Thế Phong kể cho cô nghe vụ vừa bị chọc
ghẹo. Cô Tuyết không nói gì mà chỉ tủm tỉm cười với ánh mắt nhìn người yêu thật
là trìu mến. Về nhà, Đặng Thế Phong không nói ra với anh chị em mà thầm thì kể
cho ông chú họ, cùng lứa tuổi, là ông Nguyễn Trường Thọ biết thôi . Ngoài ra,
ông còn kể cho ông Thọ nghe chuyện cô Tuyết có một chàng thông phán trẻ, đẹp
trai, có tiền, có địa vị, làm ở Tòa Đốc Lý thành phố theo đuổi, còn nhờ cả hai
người mai mối nhưng cô nhất quyết khước từ , bất chấp cả lời dị nghị của mọi
người, nhất là gia đình cố ý gán ghép.
Năm
1940, Đặng Thế Phong phải tạm xa cô Tuyết để lên Bắc Giang ít ngày. Ai đã đến
Bắc Giang là biết thị xã này có con sông Thương, một con sông có hai dòng nước,
bên đục, bên trong. Kẻ viết bài này, lúc bé học ở Bắc Giang, vào những ngày hè
nóng bức, cùng bạn bè ra sông bơi. Đứng từ trên cầu ra tháp nước khá cao, nhìn
thấy rõ hai dòng nước đục trong rõ rệt ! ở Bắc Giang, một buổi tối trăng sao
vằng vặc, Đặng Thế Phong đã cùng bạn bè thuê thuyền cấm sào rồi cùng nhau chén
chú, chén anh hàn huyên mọi chuyện. Lúc đang vui thì có người ra đưa cho Đặng
Thế Phong một bao thư. Ông ngưng ngay chuyện trò và vào trong khoang, lấy bao
diêm ra đốt lửa để coi thư và đây đúng là thư của cô Tuyết, từ thành Nam gửi
lên cho ông. Đọc xong thư, ông có vẻ buồn và suy nghĩ. Bạn bè thắc mắc nên hỏi,
được ông cho biết thư báo tin cô Tuyết nhuốm bệnh cả tuần rồi và nhớ ông lung
lắm nên có lẽ ông phải về Nam Định gấp! Chính đêm này, lúc đêm sắp tàn, Đặng
Thế Phong thao thức không sao chợp mắt được, đã ngồi dậy
sáng
tác được tác phẩm
Con Thuyền Không Bến buồn não ruột:
Đêm nay thu sang cùng heo may ...
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lờ lững trôi xuôi giòng
Như nhớ thương ai trùng tơ lòng...
.. Lướt theo chiều gió
Một con thuyền theo trăng trong
Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng
Biết đâu bờ bến?
Thuyền ơi thuyền trôi nơi nao
Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu?...
Hai hôm sau Đặng Thế Phong từ
giã bạn bè, rút ngắn thời gian để về Nam Định. Được tin Đặng Thế Phong đã về,
cô Tuyết thấy bệnh thuyên giảm rất nhanh. Và tối hôm sau hai người hẹn gặp lại
nhau. Lúc ấy miền Bắc đang vào Thu, gió heo may kéo về mang cái lạnh. Tối hôm
ấy trăng lên muộn, trời tối gió nhẹ làm cho hai người thấy thích thú đi bên
nhau để sưởi ấm lòng nhau sau bao ngày xa cách. Dìu nhau đến nơi cũ, Đặng Thế
Phong ghé sát tai cô Tuyết, hát nhẹ nhàng, giọng rạt rào tình cảm như rót vào
tai cô bài Con Thuyền Không Bến mà ông vừa sáng tác trong một đêm trắng trên
sông Thương vì
thương nhớ cô. Khi hát
xong, Đặng Thế Phong phải lấy khăn tay ra nhẹ nhàng lau hai dòng lệ đang từ từ
chảy xuống má cô với lòng xúc động không kém! Lúc ra về, Đặng Thế Phong nói: “
Làm được một bài nhạc nhờ em, nay về được hát cho em là người đầu tiên nghe,
thế là anh sung sướng lắm rồi !”
Cô Tuyết cũng đáp
lại lòng tri kỷ: "Là một người đàn bà tầm thường như em mà đã làm cho anh
có được một bài hát thì với em đó là một vinh dự , một hạnh phúc thật cao sang,
không phải ai ở trên đời cũng có được ! Tình anh trao cho em thật trọn vẹn,
thật bất diệt, chắc chắn không bao giờ hình ảnh anh bị phai mờ trong tim trong
óc em được, bây giờ và mãi mãi". Đến lúc ấy chị Hằng mới ló mặt ra dịu
dàng nhìn xuống trần thế và chứng giám hai người yêu nhau đang đứng sát bên
nhau sau khi đã uống cạn lời nói của nhau. Sau hôm ấy, Đặng Thế Phong mới cho
phổ biến rất hạn chế trong đám thanh niên tỉnh nhà bài Con Thuyền Không Bến,
được mọi người yêu chuộng nên rất nhiều người biết đến.
Chính vì thế mà
có một người ở Hà Nội mới mời Đặng Thế Phong lên Hà Nội để hát tại rạp chiếu bóng
Olympia bài hát của mình. Trong buổi ấy, Đặng Thế Phong ra sân khấu hát Con
Thuyền Không Bến đầy xúc động vì ngay ở hàng ghế đầu, cô Tuyết đã bỏ hẳn một
ngày chợ để lên Hà Nội nghe người yêu hát bài làm vì mình và cho mình! Riêng
với Đặng Thế Phong, ông
xúc động là phải vì với số khán giả đông đảo không đáng ngại mà là trong lòng
ông thầm nghĩ hát hôm nay rất cần và chỉ cần để một người nghe là đủ nên phải
mang hết tài trí ra biểu diễn sao cho thành công ! Hát xong, khán giả vỗ tay
hoan nghênh nhiệt liệt.
Sau một thời gian
ở Bắc Giang, ông nhuốm bệnh. Vì lúc đó bệnh lao là nan y nên ông dấu mọi người,
ai biết đều sợ bị lây nhiễm không hiểu sao cô Tuyết biết được. Cô Tuyết rất tế
nhị và khôn khéo hỏi Đặng Thế Phong: “ Sao
dạo này em thấy anh gầy và xanh lắm, Anh có bệnh gì không mà em thấy sút lắm !
Anh đi nhà thương khám và thuốc men, cho khoẻ để mình còn tính đến tương lai !” Ông
ậm ừ cho qua. Từ đó cô Tuyết âm thầm tìm mọi cách để giúp người yêu trong lúc
nhà nghèo bệnh trọng. Đặng Thế Phong cũng đến nhà thương để khám bệnh. Sau khi
dò hỏi, biết bệnh của ông, cô Tuyết nhân quen với một số y sĩ (médecin
indochinois) làm ở nhà thương, mua thuốc rồi nhờ ông ta nhận là thuốc của nhà
thương, ông lấy cho Đặng Thế Phong.
Thuốc bệnh lao
lúc ấy vừa hiếm lại vừa đắt, cô Tuyết không những không ngại tốn kém, mà còn
thường xuyên gặp Phong để săn sóc một cách kín đáo, kể cả không sợ bị lây . Về
phần Đặng Thế Phong thì ông không hề biết thuốc là của cô Tuyết mua cho mình.
Trong các cuộc tình
cao đẹp của văn nghệ sĩ , có hai nữ lưu đáng để người đời ca tụng : cô Tuyết
biết người yêu bị bệnh nan y, rất dễ lây, Mộng Cầm biết Hàn Mặc Tử bị bệnh
phong cùi, vừa ghê sơ. vừa dễ lây thế mà hai ngườí đã có tình yêu chân thật,
chung thủy, không những không sợ mà còn hết lòng chăm sóc, thuốc men cho đến
ngày tử biệt ! Thật hiếm hoi và cao quý vô cùng !
Mùa xuân năm
1941, cô Tuyết cùng Phong từ Nam Định lên Hà Nội dể tiễn chân và tạm biệt Đặng
Thế Phong vào Sài Gòn (rồi đi Nam Vang). Ở kinh đô xứ Chùa Tháp, ở Hòn Ngọc
Viễn Đông một thời gian thấy cuộc sống cũng không được thoải mái như ý mong
muốn, Đặng Thế Phong trở về Hà Nội . Về lần này, Đặng Thế Phong không về Nam
Định mà thuê một căn gác hẹp tường cây, mái lá ở làng trồng hoa Ngọc Hà, vùng ngoại
ô thành phố Hà Nội . Đặng Thế Phong ở chung với chú là ông Nguyễn Trường Thọ.
Bệnh tình Đặng Thế Phong tái phát ngày một nặng vì người bị bệnh này phải mua
thuốc men đầy đủ, phải nghỉ ngơi và ăn uống tẩm bổ tối đa mà những điều phải ắt
có và đầy đủ này, với Đặng Thế Phong không thể có được. Chính vì thế mà không
tuần nào là cô Tuyết không lên thăm và lo chữa bệnh cho Đặng Thế Phong.
Tháng Bảy mưa
ngâu tầm tã, rả rích suốt ngày này sang ngày nọ, tháng này qua tháng khác, gió
lạnh kéo về, nhà thì tường cây, mái lá, lạnh buốt lọt xương, cuộc sống kham khổ
khiến bệnh tình Đặng Thế Phong ngày càng trầm trọng. Từng cơn ho làm rũ người,
tiếp đến những cơn thổ huyết làm cho Đặng Thế Phong ngày một sút hẳn đi. Một
mình trên giường bệnh, Đặng Thế Phong nhớ gia đình thì ít mà nhớ người yêu thì
nhiều. Thân xác thì bệnh tật khó qua, tâm trí thì luôn luôn phải vật lộn với
trăm ngàn ý nghĩ và hình ảnh cuộc tình tươi đẹp nên bệnh mỗi lúc một tăng. Còn
đâu những cuộc hẹn hò thơ mộng, quên làm sao được những lời thủ thỉ ân tình và
hy vọng gì ở những ước vọng được thành đôi chim nhạn tung trời mà bay, tất cả
đã được Đặng Thế Phong ngày đêm day dứt , tiếc thương, muốn níu kéo lại thì
cũng chẳng còn gì dể bám víu !
Đặng Thế Phong đã
mang lấy nghiệp vào thân thì đời con tằm đến thác cũng còn vương tơ, tránh sao
thoát khỏi cái lưới trời thưa mà khó lọt ấy ? Chính vì lẽ ấy mà Đặng Thế Phong
đã thực sự thể hiện được câu các cụ đã dạy cọp chết để da, người ta chết để
tiếng, dù cuộc đời ông ngắn ngủi với 24 mùa lá rụng, một cuộc đời ngắn đến nổi
đo chửa đầy gang!
Thế rồi, một hôm
mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường,
Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc
hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da
diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn Cổ Sầu .
Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát
cho mọi người nghe . Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn
khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng
cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong,
đổi tên là Giọt Mưa Thu . Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ
nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là dòng nước mắt tuôn chảy lênh láng
của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong - Tuyết cũng phải cùng chung số
phận phũ phàng giống vậy chăng ?
Đến một ngày cuối
năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý
trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về. Về nhà,
lần này cô Tuyết đích thân đến hàng ngày để chăm sóc, thuốc men cho Đặng Thế
Phong, không ngại mệt mỏi và không sợ nguy hiểm đến bản thân mình. Những người
quen biết đến thăm, thấy cảnh ấy đều mũi lòng và khâm phục lẫn mến thương cuộc
tình cao quý, chung thủy của cặp Phong -Tuyết.
Không biết có phải là tại thần giao cách cảm hay không mà một hôm,
nhạc sĩ Bùi Công Kỳ đột nhiên từ Hà Nội về Nam Định thăm Đặng Thế Phong lại vừa
đúng lúc Đặng Thế Phong sắp lìa đời . Trên giường bệnh, phút lâm chung, không
nói gì được với nhau, Bùi Công Kỳ ôm đàn hát cho Đặng Thế Phong nghe một lần
chót bài Giọt Mưa Thu, Giọng hát Bùi Công Kỳ vừa dứt thì mọi người nhìn thấy
Đặng Thế Phong mở cặp mắt nhìn như ngỏ lời chào vĩnh biệt rồi nhẹ nhàng trút
hơi thở cuối cùng.
Một vì sao Bắc
Đẩu của làng nhạc Việt Nam, vừa ló dạng trên bầu trời đã vụt tắt gây niềm xúc
động mãnh liệt và niềm thương tiếc vô bờ trong lòng mọi người ! Trong tang lễ,
nam nữ thanh niên của thành Nam đã lũ lượt kéo nhau đi , chật cả phố phường để
tiễn đưa Đặng nhạc sĩ đến nơi an nghỉ cuối cùng với rất nhiều cặp mắt rưng rưng
lệ ! Cô Tuyết xin phép và được cả hai gia đình, mặc đại tang, đúng như một
người vợ trong tang lễ chồng, thật là cảm động.
Năm 1960, tại Phú
Nhuận, tôi được tiếp một thiếu phụ chưa hề quen biết. Sau lời chào hỏi, bà tự
giới thiệu tên là Tuyết, người Nam Định, di cư vào Nam hiện ở Ban Mê Thuột.
Nhân lần vô tình đọc trên báo Tư. Do, thấy quảng cáo trước cuốn Nhạc sĩ danh
tiếng hiện đại (tập II) của tôi sắp xuất bản, viết về năm nhạc sĩ trong đó có
Đặng Thế Phong, nên bà về gặp tôi để xin tôi cho bà mượn hình của cố nhạc sĩ,
chụp lại để về thờ. Trước kia, bà đã có nhưng lúc sắp di cư tấm ảnh đó bị thất
lạc, kiếm mãi không sao thấy . Tôi vội lấy ảnh đưa ngay . Cậu cháu đi theo bà
mang ngay ra tiệm hình ở đầu hẻm chụp gấp lấy ngay, xong trở vào gửi trả lại
tôi . Trong lúc cậu cháu đi chụp hình, tôi có hỏi bà về chuyện tình tươi đẹp
như bài thơ trong sáng như trăng mười sáu thì bà Tuyết xác nhận những điều tôi
biết là đúng và còn bổ sung cho tôi thêm ít nhiều chi tiết . Bà cũng không quên
nói lên điều thắc mắc là tại sao tôi biết rõ thế ? Tôi nói thật ngay là được
ông chú Nguyễn Trường Thọ cho tôi mượn ảnh, kể rành rẽ cuộc đời ái tình của
Đặng Thế Phong cho tôi nghe . Bà cười và nói : “Chú
Thọ tuy là chú nhưng cùng tuổi với anh Phong, nên hai người vừa là chú cháu vừa
có tình bạn bè nên trong gia đình chỉ có chú Thọ là được anh Phong tâm sự mà
thôi !” Thảo nào ông biết quá rõ, quá đúng và quá đủ . Sau lời cám ơn và trước
khi ra về, bà Tuyết còn nói với tôi câu cuối cùng, đến nay đã nhiều năm rồi,
tôi vẫn còn nhớ: “Cho đến ngày hôm nay, và
mãi mãi về sau, tôi tôn thờ anh Phong và đời tôi luôn luôn thương nhớ anh ấy
với tất cả cái gì trân trọng nhất !”
Viết ra những
giòng trên đây, tôi xin được phép coi là nén hương lòng, suy tôn một bậc đàn
anh khả kính và khả ái . Tuy anh đã ra người thiên cổ hơn nửa thế kỷ rồi nhưng
những Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu vẫn là những vì sao tinh tú
sáng rực trên bầu trời ca nhạc. Thể xác anh có thể trở về hư không nhưng tinh
anh vẫn còn lại muôn đời với giang sơn gấm vóc này . Cuộc đời con người ta,
sinh ký, tử quy đó là luật muôn đời của tạo hoá nhưng khi sống cho ra sống, lúc
về được qua Khải Hoàn Môn, khi cất ba tiếng khóc chào đời, mọi người hân hoan
cười mừng đón ta, khi nhoẻn miệng cười để lìa đời, mọi người thương tiếc khóc
ta, thế mới thật là sống, mới đáng sống !
Anh đã vĩnh viễn
ra đi nhưng tất cả những thế hệ hậu sinh, dù chưa được biết anh, khi hát những
bài hát bất hủ của anh để lại, đều tưởng nhớ đến anh, một thiên tài mà ta có
thể nói anh là một MOZART của Việt Nam, với tất cả tấm lòng kính mến trang
trọng nhất !
Tôi cả tin rằng, dưới suối vàng. anh cũng có thể mỉm cười mãn
nguyện. Hiển linh, anh về chứng giám và nhận cho nén tâm nhang này.
Lê
Hoàng Long