Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

Cu Ba - Phải đến và cảm nhận



                                                                                  Nguyễn Ngọc Long

Người viết bài này cũng đã được sang Cuba tới 4 lần từ năm 2006 đến nay; cũng đã được làm việc với lãnh đạo Bộ Kinh tế Cuba; Bộ Nội vụ Cuba và lãnh đạo công an một số tỉnh, thành. Rồi cũng đã gặp gỡ không ít cán bộ, công nhân Cuba, trong đó có không ít người đã từng sang giúp ta mở đường Hòa Lạc – Xuân Mai, xây dựng khách sạn Thắng Lợi, mở
đường Hồ Chí Minh… Và quả thật, tôi cũng xin phép được nhắc lại câu của Đại sứ Lê Quảng Ba nếu như nói về Cuba: “Bao giờ ta có thể làm được như họ?!”.
Rõ ràng rằng, bấy lâu nay, cũng do Cuba xa chúng ta quá, hơn nữa, việc cung cấp thông tin còn rất hạn chế, cho nên thế giới và cả Việt Nam nữa – cũng không hiểu Cuba. Rất nhiều lời nhận xét về Cuba là xuất phát từ những kẻ trọc phú ở Việt Nam – đó là một số đại gia lắm tiền nhiều của và họ nhìn người dân Cuba bằng con mắt của kẻ lắm tiền. Nhưng họ không biết rằng, ở Cuba, có những điều mà ít nhất 2/3 dân số Việt Nam đang nằm mơ cũng không được như vậy.Tất cả trẻ em Cuba đều được giáo dục miễn phí ngay từ mẫu giáo lớn (5 tuổi) cho đến khi tốt nghiệp đại học hoặc học lên đến tiến sĩ. Trong suốt quá trình học này, học sinh không phải chi một xu cho tiền may đồng phục, tiền mua sắm sách vở, giấy bút và còn được nuôi ăn một bữa hoặc cả ngày (tùy theo từng trường).
Trẻ em Cuba từ khi đi học mẫu giáo đã được học 3 thứ. Đó là: âm nhạc, múa và bơi lội. Còn chữ nghĩa thì cũng có học nhưng chỉ là nhận biết mặt chữ mà thôi. Không có một trẻ em Cuba nào bị thất học, dù đó là ở nơi “thâm sơn cùng cốc”.
Tất cả người dân Cuba đều được khám, chữa bệnh miễn phí và được dùng những loại thuốc tốt nhất có thể. Vào những bệnh viện ở Cuba, không  làm gì có cảnh bệnh nhân “lóp ngóp” chui từ gầm giường ra chào hoặc ba bốn bệnh nhân chung nhau một giường  (như ở Việt Nam). Việc một ông ủy viên Trung ương nằm chung phòng điều trị với một ông  phó thường dân là chuyện bình thường. Tất cả người dân, trẻ em Cuba đều được uống sữa tươi miễn phí. Nếu là  trẻ em dưới 10 tuổi thì đều “như vắt chanh”, mỗi ngày được uống nửa lít sữa và nhà nào không có điều kiện ra cửa hàng lấy thì có người mang sữa đến tận  nhà. Rồi nữa, giáo dục của Cuba được xếp vào hàng tiên tiến nhất thế giới,  ngang với Đan Mạch. Y tế Cuba thì đứng vào hàng đầu và họ đã chế ra  được vắc-xin phòng chống bệnh ung thư và nhiều loại thuốc đặc biệt  khác. Thể thao Cuba thì cũng đứng vào hàng thứ 14, 15 gì đó trên thế  giới (trong khi Việt Nam ta chưa được xếp vào thứ bậc nào trên thế giới, hoặc nếu có thì cũng hàng… đội sổ).Còn về trật tự xã hội thì quả thực đó là một thiên đường cho sự ngăn  nắp, nề nếp, văn minh và sự tôn trọng các quy tắc trật tự đô thị, bảo vệ môi trường.Đúng là người dân Cuba còn thiếu thốn bởi cái lệnh cấm vận cực kỳ dã  man của Mỹ. Nhưng trong phạm vi có thể, Chính phủ Cuba đã l cho trẻ em và người già hết mức. Đấy chính là bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.Trong một lần, tôi về tỉnh Holguín – quê hương của Chủ tịch Fidel Castro. Vào tối Chủ nhật, tôi ra quảng trường ở thành phố chơi và thực sự kinh ngạc khi thấy có đến cả hơn 100 thanh thiếu niên mang các loại  nhạc cụ ra hòa tấu – chủ yếu là bộ hơi (các loại kèn). Hóa ra ở thành phố này có một ông nhạc trưởng.Mỗi tháng một lần, ông lại phát cho những thanh thiếu niên biết chơi nhạc một bản nhạc. Học sinh mang về tập và cứ đến tối Chủ nhật thì lại ra quảng trường tập hòa tấu. Một khung cảnh thanh bình, văn minh hiếm có mà dĩ nhiên, chưa từng thấy ở Việt Nam.Đi trên đường phố thủ đô La Habana hoặc đến bất cứ cửa hàng nào, không  làm gì có cảnh người dân chen lấn, xô đẩy mua hàng hóa hoặc chen lấn lên xe buýt. Một cháu bé đang đi tung tăng trên vỉa hè, nếu vui chân chạy xuống đường thì lập tức tất cả các phương tiện giao thông đang đi trên đường dừng lại, người lái xe sẽ xuống xe dắt cháu trên vỉa hè rồi  mới đi tiếp.Những điều đó – chắc chắn rằng những người vốn nhìn Cuba hay Triều Tiên bằng con mắt “trọc phú” sẽ không bao giờ nhìn thấy bởi họ quen đến những nơi có tiền là có tất cả. Nhưng họ lại không nghĩ rằng, có những điều trong cuộc sống con người ta mà có tiền cũng chẳng thể mua được: Đó là sự hạnh phúc, bình an.
Cuba không phải là họ không biết và không có khát vọng làm giàu. Nhưng  họ không làm giàu bằng mọi cách như ở Việt Nam ta. Họ không làm giàu  bằng kiểu tàn phá môi trường; không làm giàu bằng các trò làm ăn chộp giật, lừa đảo, bất chấp luật pháp. Đúng là xã hội của họ còn nhiều thiếu thốn, cách quản lý, xây dựng phát triển kinh tế của họ cũng còn nhiều điều phải bàn, phải cải tổ nhưng rõ ràng họ đã chăm lo tốt hơn ta rất nhiều cho đời sống người dân, đặc biệt là trẻ em và người già.Mà nhân đây cũng phải nói thêm rằng, bình quân thu nhập theo đầu người của Cuba còn gấp 3 lần người Việt Nam (khoảng 3.000USD/người/năm).Chỉ có điều là Cuba đã dành 54% tổng thu nhập quốc gia cho giáo dục và y tế.
Một trong những thành tựu lớn của Cuba.Tờ Independent của Anh thống kê về y tế Cuba vào năm 2006 như sau:
     - Tuổi thọ bình quân: nam 75,11; nữ: 79,85 (Mỹ tương ứng là 75; 80,8).
     - Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh: 6,22 ca tử vong trên 1.000 trẻ em (Mỹ là 6,43).
     - Tỷ lệ nhiễm HIV: dưới 0,1 phần trăm (Mỹ: 0,6 phần trăm).
     - Số bác sĩ trên 1000 dân: 5,91 (Mỹ: 2,56).
     - Số giường bệnh trên 10.000 dân: 49 (Mỹ: 33).
     - 25.000 bác sĩ Cuba đang làm nhiệm vụ nhân đạo tại 68 quốc gia.
     - Năm 2006, 1.800 bác sĩ từ 47 nước đang phát triển đã tốt nghiệp từ  21 trường y tế của Cuba
     - Mỗi năm có hơn 5.000 "khách du lịch sức khỏe" đi du lịch tới Cuba, tạo ra hơn 40 triệu USD cho nền kinh tế Cuba.
     - Thường xuyên cử các đoàn y tế (tổng cộng 135.000 người) tới các khu vực có thiên tai, dịch bệnh trên thế giới (đặc biệt tại các nước nghèo) để hỗ trợ. Từ 1960 đến nay Cuba này đã gửi hơn 135.000 nhân viên y tế đến nhiều nơi trên thế giới trong các  sứ mệnh nhân đạo.
     - Riêng để giúp đỡ các nạn nhân của cơn bão Katrina, Fidel Castro gửi sang Mỹ 1.586 bác sĩ.
     - Đặc biệt, ngày 1/7/2015, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chính thức xác  nhận Cuba trở thành quốc gia đầu tiên đã thành công trong việc ngăn chặn virus HIV truyền từ mẹ sang con. Theo Giám đốc WHO Margaret Chan, thành công của Cuba là một trong những thành tựu quan trọng nhất của hệ thống y tế toàn cầu, là chiến thắng y học rất vĩ đại của nhân loại trong cuộc chiến lâu dài với HIV/AIDS. Một trong những yếu tố quan  trọng là nhờ vào hệ thống chăm sóc y tế quốc gia toàn diện tập trung vào sức khỏe sản phụ. Tại Cuba có đến 99% bà mẹ mang thai và 100% các  bé sơ sinh từ mẹ bị HIV đều được điều trị thuốc ngăn chặn phơi nhiễm HIV và các loại thuốc này miễn phí hoàn toàn cho bệnh nhân, theo hướng  dẫn của bác sĩ.
                                                                                                    (nguồn Wikipedia)




 


Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2016

Giấu


                                                                                                           Bùi thị Sơn
Ai giấu nõn nường trong yếm thắm
nơi dập dềnh từng ngọn sóng hoan ca
Tí tách xuân buông loà xòa tứ lạ
nụ em căng nứt nở bung hoa...
Ai nỡ trách chàng gió xuân lơi lả
luồn yếm thơm giục giã những vần xa
Phút giao thừa đất trời còn nghiêng ngả
Em hồn nhiên, kiêu hãnh hoá đàn bà!


Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016

Mùa Đông





MÙA ĐÔNG

Khi niềm tin thành mây khói 
Tôi đi như bóng vật vờ
Khi không còn gì để nói
Tôi về lặng lẽ câu thơ
Có chi phía trước đang chờ
Mặt trời nhập nhoà trên đó
Dòng sông nỗi buồn màu đỏ
Mây đen về phía cuối trời
Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Con chim chiều tàn gãy cánh
Mùa đông mưa vùi gió lạnh
Nắng trời ngoảnh mặt quay lưng
Câu thơ dừng lại lưng chừng
Lưng chừng tiếng cười câu hát
Lưng chừng mùa đông lạnh ngắt
Lưng chừng tóc hãy còn xanh
Nỗi niềm xám xịt hao hanh
Mùa đông màu mây xoã tóc
Giọt lệ đọng màu khó nhọc
Rơi vào thăm thẳm mùa đông ...
LHT

MÙA ĐÔNG 
(chuyển thể lục bát)
Niềm tin thành khói thành mây
Tôi đi như bóng như thây vật vờ
Còn chi mà nói mà chờ
Về thôi lặng lẽ câu thơ nhói lòng
Lạnh lùng cay đắng mùa đông
Nhập nhoà trên đó vừng hồng còn đâu
Dòng sông xanh hoá đỏ nâu
Mây đen phía trước phía sau cuối trời
Mịt mù bóng chiếc xa xôi
Bóng chim gãy cánh chiều rơi mảnh chiều
Mưa tuôn gió dập tiêu điều
Nắng trời ngoảnh mặt, ráng chiều quay lưng
Lời thơ dừng lại lưng chừng
Tiếng cười câu hát bỗng ngừng chơi vơi 
Mùa đông lạnh lẽo xám trời
Lưng chừng mái tóc nửa vời còn xanh
Nỗi niềm xám xịt hao hanh 
Áng mây xoã tóc dỗ dành cô đơn
Quay đi giấu giọt lệ hờn
Rơi vào thăm thẳm nỗi buồn mùa đông...
LHT



Thứ Ba, 8 tháng 11, 2016

Chữ "Tôi" trong truyện Kiều





Ngôn ngữ nói chung và chữ tôi nói riêng, khi bước vào tác phẩm văn học cũng có số phận thăng trầm liên quan mật thiết đến những thăng trầm của lịch sử nước nhà. Tìm hiểu chữ tôi trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam là một đề tài khá lý thú. Ở bài viết này, tôi chỉ đi sâu khảo sát chữ tôi được thiên tài Nguyễn Du sử dụng trong tác phẩm Truyện Kiều.
Người Việt chúng ta từ xưa đến nay thường sử dụng chữ tôi với ba nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất: Tôi là đại từ nhân xưng, thường dùng khi xưng hô với những người đồng trang lứa hoặc với mọi người. Khi xưng tôi với những người mà tuổi tác, địa vị cao hơn hoặc thấp hơn thì sắc thái biểu cảm của chữ tôi thay đổi tùy theo từng đối tượng, hoàn cảnh. Nghĩa thứ hai: Tôi là danh từ. Nghĩa này được dùng để chỉ quan hệ vua - tôi (bầy tôi của vua), quan hệ chủ - tớ (tôi tớ, tôi đòi…). Nghĩa thứ ba: Tôi là động từ (tôi luyện, tôi sắt, tôi vôi…). Cũng là đại từ nhân xưng nhưng chữ tôi có khác chữ ta. Ta thường được dùng khi người trên nói với kẻ dưới, mình nói với mình. Cũng có trường hợp ta được dùng để xưng hô với người mình yêu mến (mình - ta). 
Theo Hoài Thanh: “Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân. Chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình” (Thi nhân Việt Nam)). Vì thế, trong văn học Trung đại, chữ ta xuất hiện khá phổ biến và Truyện Kiều cũng không là ngoại lệ. Mật độ xuất hiện của chữ ta trong Truyện Kiều khá dày đặc chẳng thua kém gì chữ hoa, chữ xuân, chữ mây, chữ tình, chữ nghĩa… Cõi người cũng được Đại thi hào Nguyễn Du gọi là “cõi người ta”. Từ Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, Hoạn Thư đến bọn “buôn thịt, bán người” như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh đều có ít nhất một lần xưng ta. Ta hãy nghe Sở Khanh huyênh hoang với nàng Kiều: Ta đây nào phải ai đâu mà rằng!/Nàng đà biết đến ta chăng/ Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi! Hắn còn bốc phét: Rằng ta có ngựa truy phong/ Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi… Còn Hoạn Thư thì đay nghiến: Giấu ta, ta cũng liệu bài giấu cho/ Lo gì việc ấy mà lo/ Kiến trong miệng chén có bò đi đâu… Ngay cả nàng Kiều khi độc thoại nội tâm với bóng hình Kim Trọng cũng có lần xưng ta: Vì ta khăng khít cho người dở dang. Trong văn học Trung đại chữ tôi được dùng với nghĩa danh từ: bầy tôi, tôi tớ, tôi đòi… không hiếm, nhưng chữ tôi dùng với nghĩa đại từ nhân xưng thì vô cùng hiếm hoi. Tác phẩm Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ dài ngót nghét 538 câu mà không hề có lấy một chữ tôi nào. Trước khi bắt tay viết bài này, tôi cũng đã cẩn thận rà soát lại Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Lục Vân Tiên, thơ Cao Bá Quát, thơ Nguyễn Công Trứ… thì chỉ bắt gặp rải rác một vài chữ tôi với nghĩa danh từ, còn chữ tôi với nghĩa đại từ nhân xưng hầu như vắng bóng. Điều đó cũng không có gì khó hiểu. Thời phong kiến, bao nhiêu quan lại muốn tâu trình, muốn bày tỏ lòng mình với vua, chúa với những đấng minh quân đều phải xưng là bầy tôi. Đó là cái thời biết bao người phải đi ở đợ, phải đi làm thuê, làm mướn, phải sống kiếp lầm than thì trong văn chương xuất hiện nhiều chữ tôi đòi, tôi tớ là chuyện bình thường. Đó là thời mà: “cá nhân, cái bản sắc của cá nhân chìm đắm trong gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong biển cả” (Hoài Thanh, sách đã dẫn). Vì vậy, trong các tác phẩm văn học Trung đại khó lòng tìm thấy chữ tôi theo nghĩa đại từ nhân xưng cũng là điều tất yếu. Chữ tôi với nghĩa đại từ nhân xưng chỉ “sinh sôi, nảy nở” trong các trào lưu văn học thời 30-45 (khi mà luồng gió từ phương Tây thổi ào ạt vào nước ta). Hoài Thanh hình dung: “Ngày thứ nhất - ai biết đích ngày nào - chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ. Nó như lạc loài nơi đất khách. Bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” (sách đã dẫn). Cái “ngày thứ nhất” đó, theo tôi là ngày trên thi đàn Việt Nam xuất hiện hai ngôi sao chói sáng: Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương. Trong mấy chục bài thơ tương truyền là của Hồ Xuân Hương, tôi đã may mắn tìm thấy một chữ tôi. Đấy là chữ tôi trong bài Ốc nhồi: Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi/ Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi/ Quân tử có thương thì bóc yếm/ Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.... Ý thức cá nhân ở Hồ Xuân Hương còn bộc lộ khá mạnh mẽ trong các bài thơ: Mời trầu, Tự tình, Quả mít, Hang Cắc Cớ, Đèo Ba Dội… Còn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, tôi đã thống kê được cả thảy 25 chữ tôi - một con số khá ấn tượng! Trong số 25 chữ tôi đó chỉ có 3 lần nhà thơ dùng với nghĩa danh từ. Một lần chữ tôi được Nguyễn Du dùng khá độc đáo: vừa là danh từ vừa là đại từ. Tất cả các trường hợp còn lại nhà thơ đều dùng với nghĩa đại từ nhân xưng. Có đến 6 nhân vật từng xưng tôi trong Truyện Kiều. Đó là: Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúc Sinh, Hoạn Thư, con hầu của Hoạn Thư và hồn ma Đạm Tiên. Con hầu của Hoạn Thư nói với Kiều về việc Hoạn Thư nghe lén cuộc chuyện trò giữa Thúc Sinh và nàng Kiều ở Quan Âm các: Ngăn tôi đứng lại một bên/ Chán tai rồi mới bước lên trên lầu. Còn hồn ma Đạm Tiên nói với Kiều khi nàng đang “thiêm thiếp giấc vàng” trên chiếc bè của Vãi Giác Duyên: Rằng tôi đã có lòng chờ/ Mất công mười mấy năm thừa ở đây. Cho hồn ma Đạm Tiên và con hầu của Hoạn Thư xưng là điều khác thường trong văn học viết thời đại Nguyễn Du. Tuy nhiên, việc xưng tôi của hai nhân vật trên với sắc thái biểu cảm bình thường, trung tính, không có gì đáng bàn. Riêng cách xưng tôi của Thúc Sinh, Hoạn Thư, Kim Trọng và đặc biệt là Thúy Kiều đều ít nhiều thể hiện bản lĩnh và ý thức cá nhân của các nhân vật ấy. 
Bây giờ ta thử điểm qua cách xưng tôi của ba nhân vật: Thúc Sinh, Hoạn Thư và Kim Trọng.
Chàng Thúc xưng tôi với viên quan xử vụ Thúc Ông kiện nàng Kiều:
Tại tôi hứng lấy một tay,
Để nàng cho đến nỗi này vì tôi.
Người đời chỉ thấy cái tính nhát gan của Thúc Sinh nhưng đã mấy ai đứng trước công đường dám nhận tội thay cho bị can như chàng? Cách xưng tôi với viên quan xử kiện, chứng tỏ chàng Thúc cũng chẳng phải tay vừa! 
Vợ Thúc Sinh là Hoạn Thư còn ghê gớm hơn. Bị giải ra trước vành móng ngựa, mặc dù đã “hồn lạc phách xiêu”, Hoạn Thư vẫn đủ khôn ngoan để ‘lựa lời kêu ca”:
Rằng: tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
Hoạn Thư xưng tôi với Thúy Kiều - người đang ngồi uy nghi trên ghế chánh án.. Đúng là “đàn bà dễ có mấy tay” như Hoạn Thư.
Chàng Kim Trọng, khi nghe Vương Ông kể lại việc Kiều phải bán mình chuộc cha đã vô cùng ân hận:
Rằng: Tôi trót quá chân ra,
Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo.
Và chàng quyết tâm tìm bằng được người yêu:
Bao nhiêu của mấy ngày đàng,
Còn tôi, tôi một gặp nàng mới thôi!
Cách nói của chàng cũng phần nào thể hiện ý thức trách nhiệm của một đấng nam nhi trước số phận bất hạnh của Thúy Kiều.
Trong các nhân vật xưng tôi thì cái cách xưng tôi của nhân vật Thúy Kiều là đáng bàn hơn cả.
Chữ tôi xuất hiện lần thứ nhất trong Truyện Kiều nằm ở câu 704 (lúc nàng Kiều ngồi dưới ngọn đèn khuya, thổn thức nghĩ đến chàng Kim):
Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,
Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Công trình kể biết mấy mươi.
Vì ta khăng khít, cho người dở dang.
Thề hoa chưa ráo chén vàng,
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa.
Trời Liêu non nước bao xa.
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi.
Câu Vì ta khăng khít, cho người dở dang là Kiều nói với chính mình, còn câu: Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi là nàng đang nói với bóng hình Kim Trọng. Nếu Truyện Kiều được viết trước bài thơ Ốc nhồi thì chữ tôi này có thể là chữ tôi theo nghĩa đại từ nhân xưng xuất hiện lần đầu tiên trên thi đàn Việt Nam. Mặc dù mới xuất hiện nhưng nó không hề “bỡ ngỡ” chút nào, bởi Nguyễn Du đã đưa nó vào tác phẩm văn chương một cách hết sức tự nhiên, như lời ăn tiếng nói thường ngày. Với việc lựa chọn xưng tôi, nàng Kiều đã trở thành nàng Kiều của Nguyễn Du, nàng Kiều của Việt Nam chứ không còn là nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc nữa. Nhà thơ đã để cho Thúy Kiều ý thức một cách sâu sắc về trách nhiệm cá nhân của mình đối với người yêu. 
Khi Kiều sập bẫy, mụ Tú Bà đã đánh Kiều đến mức “uốn lưng thịt đổ, cất đầu máu sa”, nàng phải đau đớn xin mụ từ bỏ “chút lòng trinh bạch” của mình: 
Rằng: Tôi chút phận đàn bà,
Nước non lìa cửa, lìa nhà, đến đây.
Bây giờ sống chết ở tay,
Thân này đã đến thế này thì thôi!
Nhưng tôi có sá chi tôi,
Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?
Thân lươn bao quản lấm đầu,
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!
Việc Kiều xưng tôi với mụ Tú Bà là hết sức bất ngờ. Xét về tuổi tác, địa vị mụ Tú là kẻ bề trên. Thông thường vào hoàn cảnh của Kiều, nàng phải xưng “con” mới đúng (như trong Kim Vân Kiều truyện). Với việc xứng tôi, Kiều đã đặt mình ngang hàng với mụ. Mặc dù nàng đang quằn quại bởi trận đòn hết sức tàn nhẫn nhưng trong cách xưng tôi, chứng tỏ nàng không hề che giấu thái độ coi thường đối với mụ. Đó là cái tôi đầy bản lĩnh của Kiều.
Kiều xưng tôi với Thúc Sinh, khi chàng Thúc cố thuyết phục nàng làm vợ lẽ:
Bấy lâu khăng khít dải đồng,
Thêm người người cũng chia lòng riêng tây.
Vẻ chi chút phận bèo mây,
Làm cho bể ái khi đầy khi vơi.
Trăm điều ngang ngửa vì tôi,
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho?
Bình thường, khi chuyện trò với Thúc Sinh, Kiều vẫn xưng thiếp: Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng…nhưng sao trong trường hợp này nàng lại xưng tôi? Phải chăng lúc này, tuy đang nói với Thúc Sinh nhưng Kiều lại nghĩ nhiều đến Hoạn Thư. Nàng sợ mình phá mất cái tổ ấm của người đàn bà đầy quyền lực ấy? Cách xưng hô tôi một lần nữa thể hiện ý thức cá nhân của Kiều trong việc tôn trọng hạnh phúc của người khác.
Còn đây là lời Thúy Kiều thuyết phục Thúc Sinh trở lại quê nhà thú thật với Hoạn Thư để tránh hậu họa về sau:
Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.
Dù khi sóng gió bất bình,
Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi.
Câu: Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau mà cách nào nghe cũng hợp tình, hợp lý. Nếu “ lớn” là bà chủ (Hoạn Thư) thì phận tôi đòi đành thủ phận tôi đòi (Kiều). Nếu “lớn” là vợ cả (Hoạn Thư) thì tôi (Kiều) là vợ bé đành thủ phận vợ bé. Nếu xem chữ tôi đứng trước là đại từ nhân xưng, chữ tôi đứng sau là danh từ thì câu này còn có nghĩa: Hoạn Thư là vợ cả, tôi (Kiều) đành thủ phận làm kiếp tôi đòi. Thế mới biết cách chơi chữ “đồng âm, dị nghĩa” của Nguyễn Du tài tình đến mức nào!
Chỉ xét riêng về việc sử dụng chữ tôi theo nghĩa đại từ nhân xưng với tần số xuất hiện ấn tượng như thế, với ý thức cá nhân mạnh mẽ như thế, với cách chơi chữ biến hóa như thế (trong khi chữ tôi hầu như vắng bóng trong văn học Trung đại nước nhà), Truyện Kiều có thể được xem là một “ngoại lệ”. Và Nguyễn Du đúng là một “bậc kỳ tài”, một Đại thi hào đi trước thời đại.

                                                                                                                              Mai Văn Hoan