Thứ Ba, 8 tháng 11, 2016

Chữ "Tôi" trong truyện Kiều





Ngôn ngữ nói chung và chữ tôi nói riêng, khi bước vào tác phẩm văn học cũng có số phận thăng trầm liên quan mật thiết đến những thăng trầm của lịch sử nước nhà. Tìm hiểu chữ tôi trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam là một đề tài khá lý thú. Ở bài viết này, tôi chỉ đi sâu khảo sát chữ tôi được thiên tài Nguyễn Du sử dụng trong tác phẩm Truyện Kiều.
Người Việt chúng ta từ xưa đến nay thường sử dụng chữ tôi với ba nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất: Tôi là đại từ nhân xưng, thường dùng khi xưng hô với những người đồng trang lứa hoặc với mọi người. Khi xưng tôi với những người mà tuổi tác, địa vị cao hơn hoặc thấp hơn thì sắc thái biểu cảm của chữ tôi thay đổi tùy theo từng đối tượng, hoàn cảnh. Nghĩa thứ hai: Tôi là danh từ. Nghĩa này được dùng để chỉ quan hệ vua - tôi (bầy tôi của vua), quan hệ chủ - tớ (tôi tớ, tôi đòi…). Nghĩa thứ ba: Tôi là động từ (tôi luyện, tôi sắt, tôi vôi…). Cũng là đại từ nhân xưng nhưng chữ tôi có khác chữ ta. Ta thường được dùng khi người trên nói với kẻ dưới, mình nói với mình. Cũng có trường hợp ta được dùng để xưng hô với người mình yêu mến (mình - ta). 
Theo Hoài Thanh: “Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân. Chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình” (Thi nhân Việt Nam)). Vì thế, trong văn học Trung đại, chữ ta xuất hiện khá phổ biến và Truyện Kiều cũng không là ngoại lệ. Mật độ xuất hiện của chữ ta trong Truyện Kiều khá dày đặc chẳng thua kém gì chữ hoa, chữ xuân, chữ mây, chữ tình, chữ nghĩa… Cõi người cũng được Đại thi hào Nguyễn Du gọi là “cõi người ta”. Từ Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, Hoạn Thư đến bọn “buôn thịt, bán người” như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh đều có ít nhất một lần xưng ta. Ta hãy nghe Sở Khanh huyênh hoang với nàng Kiều: Ta đây nào phải ai đâu mà rằng!/Nàng đà biết đến ta chăng/ Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi! Hắn còn bốc phét: Rằng ta có ngựa truy phong/ Có tên dưới trướng, vốn dòng kiện nhi… Còn Hoạn Thư thì đay nghiến: Giấu ta, ta cũng liệu bài giấu cho/ Lo gì việc ấy mà lo/ Kiến trong miệng chén có bò đi đâu… Ngay cả nàng Kiều khi độc thoại nội tâm với bóng hình Kim Trọng cũng có lần xưng ta: Vì ta khăng khít cho người dở dang. Trong văn học Trung đại chữ tôi được dùng với nghĩa danh từ: bầy tôi, tôi tớ, tôi đòi… không hiếm, nhưng chữ tôi dùng với nghĩa đại từ nhân xưng thì vô cùng hiếm hoi. Tác phẩm Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ dài ngót nghét 538 câu mà không hề có lấy một chữ tôi nào. Trước khi bắt tay viết bài này, tôi cũng đã cẩn thận rà soát lại Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Lục Vân Tiên, thơ Cao Bá Quát, thơ Nguyễn Công Trứ… thì chỉ bắt gặp rải rác một vài chữ tôi với nghĩa danh từ, còn chữ tôi với nghĩa đại từ nhân xưng hầu như vắng bóng. Điều đó cũng không có gì khó hiểu. Thời phong kiến, bao nhiêu quan lại muốn tâu trình, muốn bày tỏ lòng mình với vua, chúa với những đấng minh quân đều phải xưng là bầy tôi. Đó là cái thời biết bao người phải đi ở đợ, phải đi làm thuê, làm mướn, phải sống kiếp lầm than thì trong văn chương xuất hiện nhiều chữ tôi đòi, tôi tớ là chuyện bình thường. Đó là thời mà: “cá nhân, cái bản sắc của cá nhân chìm đắm trong gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong biển cả” (Hoài Thanh, sách đã dẫn). Vì vậy, trong các tác phẩm văn học Trung đại khó lòng tìm thấy chữ tôi theo nghĩa đại từ nhân xưng cũng là điều tất yếu. Chữ tôi với nghĩa đại từ nhân xưng chỉ “sinh sôi, nảy nở” trong các trào lưu văn học thời 30-45 (khi mà luồng gió từ phương Tây thổi ào ạt vào nước ta). Hoài Thanh hình dung: “Ngày thứ nhất - ai biết đích ngày nào - chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ. Nó như lạc loài nơi đất khách. Bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” (sách đã dẫn). Cái “ngày thứ nhất” đó, theo tôi là ngày trên thi đàn Việt Nam xuất hiện hai ngôi sao chói sáng: Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương. Trong mấy chục bài thơ tương truyền là của Hồ Xuân Hương, tôi đã may mắn tìm thấy một chữ tôi. Đấy là chữ tôi trong bài Ốc nhồi: Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi/ Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi/ Quân tử có thương thì bóc yếm/ Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.... Ý thức cá nhân ở Hồ Xuân Hương còn bộc lộ khá mạnh mẽ trong các bài thơ: Mời trầu, Tự tình, Quả mít, Hang Cắc Cớ, Đèo Ba Dội… Còn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, tôi đã thống kê được cả thảy 25 chữ tôi - một con số khá ấn tượng! Trong số 25 chữ tôi đó chỉ có 3 lần nhà thơ dùng với nghĩa danh từ. Một lần chữ tôi được Nguyễn Du dùng khá độc đáo: vừa là danh từ vừa là đại từ. Tất cả các trường hợp còn lại nhà thơ đều dùng với nghĩa đại từ nhân xưng. Có đến 6 nhân vật từng xưng tôi trong Truyện Kiều. Đó là: Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúc Sinh, Hoạn Thư, con hầu của Hoạn Thư và hồn ma Đạm Tiên. Con hầu của Hoạn Thư nói với Kiều về việc Hoạn Thư nghe lén cuộc chuyện trò giữa Thúc Sinh và nàng Kiều ở Quan Âm các: Ngăn tôi đứng lại một bên/ Chán tai rồi mới bước lên trên lầu. Còn hồn ma Đạm Tiên nói với Kiều khi nàng đang “thiêm thiếp giấc vàng” trên chiếc bè của Vãi Giác Duyên: Rằng tôi đã có lòng chờ/ Mất công mười mấy năm thừa ở đây. Cho hồn ma Đạm Tiên và con hầu của Hoạn Thư xưng là điều khác thường trong văn học viết thời đại Nguyễn Du. Tuy nhiên, việc xưng tôi của hai nhân vật trên với sắc thái biểu cảm bình thường, trung tính, không có gì đáng bàn. Riêng cách xưng tôi của Thúc Sinh, Hoạn Thư, Kim Trọng và đặc biệt là Thúy Kiều đều ít nhiều thể hiện bản lĩnh và ý thức cá nhân của các nhân vật ấy. 
Bây giờ ta thử điểm qua cách xưng tôi của ba nhân vật: Thúc Sinh, Hoạn Thư và Kim Trọng.
Chàng Thúc xưng tôi với viên quan xử vụ Thúc Ông kiện nàng Kiều:
Tại tôi hứng lấy một tay,
Để nàng cho đến nỗi này vì tôi.
Người đời chỉ thấy cái tính nhát gan của Thúc Sinh nhưng đã mấy ai đứng trước công đường dám nhận tội thay cho bị can như chàng? Cách xưng tôi với viên quan xử kiện, chứng tỏ chàng Thúc cũng chẳng phải tay vừa! 
Vợ Thúc Sinh là Hoạn Thư còn ghê gớm hơn. Bị giải ra trước vành móng ngựa, mặc dù đã “hồn lạc phách xiêu”, Hoạn Thư vẫn đủ khôn ngoan để ‘lựa lời kêu ca”:
Rằng: tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
Hoạn Thư xưng tôi với Thúy Kiều - người đang ngồi uy nghi trên ghế chánh án.. Đúng là “đàn bà dễ có mấy tay” như Hoạn Thư.
Chàng Kim Trọng, khi nghe Vương Ông kể lại việc Kiều phải bán mình chuộc cha đã vô cùng ân hận:
Rằng: Tôi trót quá chân ra,
Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo.
Và chàng quyết tâm tìm bằng được người yêu:
Bao nhiêu của mấy ngày đàng,
Còn tôi, tôi một gặp nàng mới thôi!
Cách nói của chàng cũng phần nào thể hiện ý thức trách nhiệm của một đấng nam nhi trước số phận bất hạnh của Thúy Kiều.
Trong các nhân vật xưng tôi thì cái cách xưng tôi của nhân vật Thúy Kiều là đáng bàn hơn cả.
Chữ tôi xuất hiện lần thứ nhất trong Truyện Kiều nằm ở câu 704 (lúc nàng Kiều ngồi dưới ngọn đèn khuya, thổn thức nghĩ đến chàng Kim):
Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,
Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Công trình kể biết mấy mươi.
Vì ta khăng khít, cho người dở dang.
Thề hoa chưa ráo chén vàng,
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa.
Trời Liêu non nước bao xa.
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi.
Câu Vì ta khăng khít, cho người dở dang là Kiều nói với chính mình, còn câu: Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi là nàng đang nói với bóng hình Kim Trọng. Nếu Truyện Kiều được viết trước bài thơ Ốc nhồi thì chữ tôi này có thể là chữ tôi theo nghĩa đại từ nhân xưng xuất hiện lần đầu tiên trên thi đàn Việt Nam. Mặc dù mới xuất hiện nhưng nó không hề “bỡ ngỡ” chút nào, bởi Nguyễn Du đã đưa nó vào tác phẩm văn chương một cách hết sức tự nhiên, như lời ăn tiếng nói thường ngày. Với việc lựa chọn xưng tôi, nàng Kiều đã trở thành nàng Kiều của Nguyễn Du, nàng Kiều của Việt Nam chứ không còn là nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Quốc nữa. Nhà thơ đã để cho Thúy Kiều ý thức một cách sâu sắc về trách nhiệm cá nhân của mình đối với người yêu. 
Khi Kiều sập bẫy, mụ Tú Bà đã đánh Kiều đến mức “uốn lưng thịt đổ, cất đầu máu sa”, nàng phải đau đớn xin mụ từ bỏ “chút lòng trinh bạch” của mình: 
Rằng: Tôi chút phận đàn bà,
Nước non lìa cửa, lìa nhà, đến đây.
Bây giờ sống chết ở tay,
Thân này đã đến thế này thì thôi!
Nhưng tôi có sá chi tôi,
Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?
Thân lươn bao quản lấm đầu,
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa!
Việc Kiều xưng tôi với mụ Tú Bà là hết sức bất ngờ. Xét về tuổi tác, địa vị mụ Tú là kẻ bề trên. Thông thường vào hoàn cảnh của Kiều, nàng phải xưng “con” mới đúng (như trong Kim Vân Kiều truyện). Với việc xứng tôi, Kiều đã đặt mình ngang hàng với mụ. Mặc dù nàng đang quằn quại bởi trận đòn hết sức tàn nhẫn nhưng trong cách xưng tôi, chứng tỏ nàng không hề che giấu thái độ coi thường đối với mụ. Đó là cái tôi đầy bản lĩnh của Kiều.
Kiều xưng tôi với Thúc Sinh, khi chàng Thúc cố thuyết phục nàng làm vợ lẽ:
Bấy lâu khăng khít dải đồng,
Thêm người người cũng chia lòng riêng tây.
Vẻ chi chút phận bèo mây,
Làm cho bể ái khi đầy khi vơi.
Trăm điều ngang ngửa vì tôi,
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho?
Bình thường, khi chuyện trò với Thúc Sinh, Kiều vẫn xưng thiếp: Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng…nhưng sao trong trường hợp này nàng lại xưng tôi? Phải chăng lúc này, tuy đang nói với Thúc Sinh nhưng Kiều lại nghĩ nhiều đến Hoạn Thư. Nàng sợ mình phá mất cái tổ ấm của người đàn bà đầy quyền lực ấy? Cách xưng hô tôi một lần nữa thể hiện ý thức cá nhân của Kiều trong việc tôn trọng hạnh phúc của người khác.
Còn đây là lời Thúy Kiều thuyết phục Thúc Sinh trở lại quê nhà thú thật với Hoạn Thư để tránh hậu họa về sau:
Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.
Dù khi sóng gió bất bình,
Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi.
Câu: Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau mà cách nào nghe cũng hợp tình, hợp lý. Nếu “ lớn” là bà chủ (Hoạn Thư) thì phận tôi đòi đành thủ phận tôi đòi (Kiều). Nếu “lớn” là vợ cả (Hoạn Thư) thì tôi (Kiều) là vợ bé đành thủ phận vợ bé. Nếu xem chữ tôi đứng trước là đại từ nhân xưng, chữ tôi đứng sau là danh từ thì câu này còn có nghĩa: Hoạn Thư là vợ cả, tôi (Kiều) đành thủ phận làm kiếp tôi đòi. Thế mới biết cách chơi chữ “đồng âm, dị nghĩa” của Nguyễn Du tài tình đến mức nào!
Chỉ xét riêng về việc sử dụng chữ tôi theo nghĩa đại từ nhân xưng với tần số xuất hiện ấn tượng như thế, với ý thức cá nhân mạnh mẽ như thế, với cách chơi chữ biến hóa như thế (trong khi chữ tôi hầu như vắng bóng trong văn học Trung đại nước nhà), Truyện Kiều có thể được xem là một “ngoại lệ”. Và Nguyễn Du đúng là một “bậc kỳ tài”, một Đại thi hào đi trước thời đại.

                                                                                                                              Mai Văn Hoan

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2016

Cho một mùa vu vơ

                                                                                                       Hoàng Kim Hương



Đừng giận em
Khi bài thơ cho anh mắc lại mùa thu
Heo may ngập ngừng ngã rẽ
Biết bao điều bỗng trở thành ước lệ
Có ước lệ nào đong đủ buồn vui ?

Những cơn mưa nối đất với trời
Nắng thảng thốt lẩn tàng cây dấu mặt
Lá ủ vàng tin yêu rất thật
Thả giấc mơ sau cơn mưa
Đâu phải em đã quá hững hờ
Nỗi nhớ bao lần bật khóc
Dạ lan đổ hương đêm buồn ngằn ngặt
Ngang qua cơn đau những ảo ảnh dịu dàng

Điều gì hóa thân vào cơn gió lang thang
Để chiều không anh nghẹn từng lối nhớ
Với mùa thu em ngàn lần mắc nợ
Nợ anh một thở ban đầu
Đừng giận em
Ánh sáng que diêm dù lóe lên cũng đủ nhiệm mầu
Những rủ rỉ tâm tình đi vào cổ tích
Thời gian chuốt yêu thương thành ngọc bích
Tuột tay cầm , rưng đáy mắt vu vơ…

Có một mùa mắc mãi giữa trang thơ .

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Cân bằng tuyệt vời



Một giáo sư kinh tế ở một trường Đại học cho biết ông chưa từng đánh trượt sinh viên nào nhưng đã từng đánh trượt cả một lớp. Lớp đó kiên quyết cho rằng một xã hội có hình thái tổ chức hoàn hảo là một xã hội không ai giàu và cũng không ai nghèo và đó là một cách cân bằng tuyệt vời. 

Thế là vị giáo sư nói: “Được rồi, vậy lớp mình sẽ tiến hành một thí nghiệm về điều đó. Tất cả các điểm sẽ được tổng hợp lại và chia đều ra, mọi người sẽ nhận được điểm như nhau, vì thế không ai bị trượt và cũng không ai được A cả.”

Sau bài kiểm tra đầu tiên, mức điểm trung bình cho cả lớp là B. Những sinh viên chăm rất buồn, còn những sinh viên lười rất mừng.

Qua bài kiểm tra thứ hai, những sinh viên lười thậm chí còn lười hơn, còn những sinh viên chăm thì quyết định rằng họ cũng chỉ nên học ít thôi. Điểm trung bình cho bài lần hai là D! Không ai vui cả.

Đến bài thứ ba, điểm trung bình là F. Mức điểm không hề tăng lên, còn các cuộc cãi vã, buộc tội, nêu tên nổ ra, mọi người đều khó chịu và không ai muốn học để người khác có lợi.

Đến bài cuối cùng, tất cả đều trượt, và ai cũng ngỡ ngàng. Giáo sư đã nói với họ rằng: Thông qua kết quả những bài kiểm tra thì các bạn có thể dễ dàng thấy được rằng, kiểu gì thì kiểu xã hội mà các bạn đang mong muốn cũng khó thành hiện thực vì dù ý tưởng rất hấp dẫn nhưng khi đưa vào thực thi chẳng ai còn động lực để làm việc nữa. Không gì đơn giản hơn thế !

Cuối cùng ông tổng kết:

“Bạn không thể làm người nghèo giàu lên bằng cách khiến người giàu nghèo đi. Người không phải làm gì vẫn được hưởng trong khi người phải làm thì không được hưởng gì. Chính phủ không thể cho ai cái gì mà không lấy thứ đó từ người khác. Khi một nửa nhân dân thấy rằng họ không cần làm gì vì sẽ có nửa khác làm cho, còn nửa còn lại thì nghĩ họ làm cũng chẳng ích gì vì sẽ bị kẻ khác đoạt mất, đó chính là khởi đầu của kết thúc cho mọi xã hội !"

"Không ai có thể gia tăng sự giàu có bằng cách chia đều nó ra.”

Một xã hội công bằng mang tính nhân bản là gì ? 
    
Không nên khó chịu về việc chênh lệch giàu nghèo của một xã hội nào đó. Mà hãy hỏi xem ở xã hội đó người nghèo có đủ sống không ? Chất lượng cuộc sống của người nghèo có thực thụ là 1 cuộc sống dành cho con người không ? Đau bệnh có được chữa trị tận tình không ? 

Và tiếp tục hỏi xem những người giàu cái giàu của họ có xứng đáng không ? Họ giàu bằng công sức - đầu óc của họ hay sự mánh mung, gian lận hay bất chính, phi pháp, ô dù ?

Ở xã hội đó cơ hội đỗ đạt, cơ hội thăng tiến có công bằng với tất cả không ? Hay chỉ thiên vị cho riêng nhóm người nào đó và con cháu của những ai đó. Và quan trọng nhất, là luật pháp và chính sách ưu đãi của nhà nước phải công bằng với tất cả, không phân biệt giàu nghèo, nghề nghiệp, địa vị... trước pháp luật ai cũng bình đẳng như ai.



                     
                               
                                                  


 


Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

Tôi - Đứa bé không lạc lõng



                                                                           Nguyn Thánh Ngã
                  
 Tôi làm thơ từ rất sớm. "Sớm", nghĩa là lúc chưa hề ý thức. Làm thơ mà không nghĩ mình làm thơ, chỉ là những xúc cảm nhỏ nhoi. Tuổi học trò là vậy. Quẩn quanh. Nhưng cũng nhờ cái quanh quẩn tôi đâm chán mình. Tự chán là đã ý thức.
Tôi gặp thơ Haiku.
Tò mò.
Đơn thương độc mã đi tìm. Và mê đắm. Tôi ra sức rèn luyện Haiku và nhào lộn trong triều dâng của nó. Rồi nhận ra tốn công vô ích. Bởi nó như những công án thiền, chỉ là tiếng thét giữa miền cây cỏ hoang sơ. Không ai đón nhận. Rừng Lâm Đồng cỏ hoa là thế, mà tôi quạnh hiu. Một mình tiềm ẩn giữa Vương quốc hoa. Xưa Nguyễn Công Trứ xin làm cây thông. Nay tôi như đấu sĩ với chiếc gươm Haiku, chiến đấu với "cối xay gió" giữa rừng thông vi vút, nhận ra tính đa âm của lá thông kim; chiến đấu với đóa hoa dại bên rừng mới nhận ra làn hương ủ kín giữa đại ngàn vv...Bừng một hôm, có kẻ trộm! Không trộm hoa vì tham lợi, mà trộm cái đẹp - một tình yêu vô cùng lãng mạn:
                      Hoa hồng
                      Giọt máu kẻ trộm
                      Đầy trăng
                                  (N.T.N)
Có ai thấy đâu. Tôi thấy một tình yêu dễ thương đầy thuyết phục. Nhờ giọt máu chan ánh trăng, mà tình yêu vượt qua bức tường lạnh căm của đêm đông Đà Lạt. Nhưng thơ Haiku không nhờ tôi đem "ở trọ" trong khu vườn cách ngăn, đầy hoa của Đà Lạt, dù Đà Lạt có đủ "kỳ hoa dị thảo" đi nữa, cũng cần mở toang cánh cửa phạm trù. Tôi nghĩ, mình sinh ra trong chiếc nôi lục bát, chưa đi khỏi lũy tre làng, sao biết được thế giới muôn màu:
                      Nôi lục bát
                      Kĩu kịt lũy tre làng
                      Đứa bé chào haiku 
                                   (N.T.N)
   Quả thật, tôi như đứa bé hớn hở đón chào một người bạn mới lạ. Sâu kín. Tự nhiên hợp với bản tính "lặng" của mình. Ấy cũng là lúc "đột vỡ" ra mọi thứ. Cảm giác mình là đứa trẻ vô tư lự, hồn nhiên "chơi đùa" với Lão thiền sư. Thơ Haiku vừa là đứa trẻ, vừa là một thiền sư, chỉ có tâm hồn vô phân biệt là gặp nhau. Từ đó, tôi nắm tay haiku đi suốt con đường này. Còn dài lắm, chưa thể nói gì được. Nhưng có một làn hương kỳ diệu, thoang thoảng quanh đây, khiến tôi bật ngộ: thơ chính là cuộc sống!
   Cuộc sống muôn màu. Tôi chọn màu nâu. Màu của đất đai, bùn thấp, màu của ngọn đồi hoang trọc:
                      Trên ngọn đồi ấy
                      Ta ôm vào lòng
                      Cỏ dại mọc hoang
                                     (N.T.N)
Không có hoa thơm, trái ngọt, mà chỉ có sự vươn lên của cỏ dại sau hoang tàn đổ nát của loài cây. Cỏ dại là chiếc áo xanh, nhờ sương nắng, gió mưa hay làn da xanh thẳm của bầu trời cũng vậy:
                      Nắng
                      Lột da trời xanh
                      Vá đất
                               (N.T.N)
Ôi con người tàn phá những cánh rừng, rừng đã cạn kiệt. Chỉ còn có cách đem tình thương từ trời vá lành những vết thương lở loét của đất đai mà thôi. Thơ Haiku ở Cao nguyên trở nên tiếng kêu hay tiếng khóc:
                      Hai cây thông
                      Ôm nhau
                      Khóc trước lưỡi cưa
                                (N.T.N)
Chỉ vậy thôi, thơ Haiku đã đi vào cuộc sống. Nó tụng ca giọt nước mắt vượt lên trên nỗi thống khoái thường tình, để thấm vào đất đai, thấu thị vũ trụ:
                      Trên cành cây cháy sém
                      Giọt sương đen
                      Khóc rừng
                                 (N.T.N)
   Giọt sương hay nước mắt? Và giọt "sương-nước-mắt" ấy đã bị ám khói, cháy sém trên cành cây, như nỗi nhớ trên cánh tay người mẹ nhân từ. Thơ là Thượng đế sáng tạo, thơ Haiku có thể đem nỗi buồn cháy sém neo giữa lưng trời; neo trước mặt con người ở chế độ tiên tri và cảnh báo. Giản dị vậy đó mà sâu thẳm ngẫm ngợi, tương lai chúng ta tùy thuộc vào đây, vào luật nhân quả. Tuy nhiên, thơ Haiku luôn reo ca với những cái bình thường nhất, sau cái đại sự. Đó là ý thức trở về...
   Và tôi trở về với đứa bé, tâm hồn luôn trẻ dại:
                      Đứa bé
                      Cúng Phật
                      Cánh hoa bên rào
                                  (N.T.N)

   Đứa bé "tôi", muôn đời vẫn ngây thơ trước đấng Từ Bi. Hôm nay thơ Haiku Nhật đã hòa âm cùng thế giới, và lưu chảy trong dòng haiku Việt. Tôi đứa trẻ Việt không còn lạc lõng giữa rừng hoang, mà đã có "cánh hoa bên rào" dâng hiến... Bởi ngoài kia mùa xuân đang về, tín hiệu của đất trời rung chuyển:
                      Hoa gạo đỏ
                      Sấm ầm ì
                      Lúa trổ bông
                                    (Cao Ngọc Thắng)
   Vâng, tôi bắt được tín hiệu mùa xuân của nhà thơ Cao Ngọc Thắng khi anh vào Nha Trang quảng bá Haiku Việt. Tuy chưa được cái may mắn gặp anh, nhưng anh là cầu nối đầu tiên, cho tôi biết có một dòng thơ lạ đang chuyển động trên đất Bắc. Sấm chớp tạo khí ni-tơ bón cho cánh đồng thơ Việt trổ bông. Và người có công đem tiếng đàn Kôtô(*) hòa âm cùng tiếng võng ru điệu lục bát quê nhà, chính là nhà thơ Đinh Nhật Hạnh:
                     Đàn Kôtô dìu dặt
                     nâng ta về
                     võng Mẹ ngày xưa
                                     (Đinh Nhật Hạnh)
Nhà thơ Đinh Nhật Hạnh - người đã "ngộ" ra, từ suối nguồn lục bát của dân tộc đã có sẵn tinh chất Haiku. Ví như ông đã tìm trong truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du có biết bao câu lục, câu bát có thể hóa thành một bài Haiku:" Ngày xuân/ Con én/ Đưa thoi" vv... hay một cách kỳ lạ. Biết tin ông vào Đà Lạt, tôi đã tìm gặp và nhận ra bậc tiền bối mê đắm cách "hòa điệu" Việt - Nhật. Nhất là ông đã dày công tìm tòi, tra cứu trong kho tàng Ca dao-Tục ngữ những chất liệu có thể làm cơ sở lý luận về Cấu trúc và Vần điệu cho thơ Haiku Việt và trong tinh thần Thơ Lục Bát vạn năng hồn cốt cho tâm hồn Haiku Việt. Tuy phát kiến của ông còn đang được tiếp tuc hoàn thịên, nhưng quả thật, câu chuyện thơ đã luôn cuốn hút tôi như một gọi mời đầy trí tuệ. Và dĩ nhiên, với phong cách đó tôi kính cẩn tìm về. Xin mượn cách viết của nhà thơ Lý Viễn Giao để diễn đạt:
                    Về thăm mẹ
                    Bước nhẹ
                    Cỏ thơm
                                     (Lý Viễn Giao)
Nhà thơ Lý Viễn Giao tôi cũng chưa có duyên được gặp gỡ, nhưng tôi luôn trân  quý thơ ông, bởi cách viết độc đáo, dịu nhẹ đi vào lòng người đọc lúc nào không hay. Tôi cho rằng câu chữ của ông có "thần" là vậy; nó đã dìu bước tôi như đứa bé hồn nhiên với tấm lòng thơm thảo, kính cẩn bước về ngôi đền thơ lộng lẫy...
   Thật vậy, tôi đang "bước nhẹ" với tâm hồn của một đứa trẻ không còn lạc lõng, mà đã có bao cánh tay vẫy gọi, thân gần...


                                    Đà Lạt tháng 8/2016
                                        N.T.N