Trần Vân Hạc
Mùa A Sử nâng túm lông ngựa bạch trên tay, ông vuốt ve rồi đưa lên mũi
hít hà. Từ đôi mắt già nua ngân ngấn đôi dòng lệ. Trong ký ức của ông
bỗng hiện lên hình ảnh con ngựa bạch mà ông vô cùng yêu quý, nó phải
vĩnh viễn xa ông vì việc nghĩa, biết vậy, nhưng ông vẫn thương nhớ khôn
nguôi.
Khắp vùng biên giới phía bắc này ai cũng biết A Sử là người
sành và quý ngựa. Ông đặc biệt có tài trong việc chọn và thuần ngựa.
Con bạch mã của ông được coi là có một không hai và được ông vô cùng yêu
quý. Chỉ có điều không ai biết tại sao ông lại đem tặng cho một người ở
bên kia biên giới.
Đó là con ngựa Mùa A Sử ngẫu nhiên mua được ở
chợ ngựa Bắc Hà – Lào Cai từ một tay buôn ngựa không chuyên. Hôm đó chỉ
thoáng nhìn, ông đã biết đấy là con ngựa quý nhưng không được chăm sóc
chu đáo. Tuy dáng vẻ gầy còm, lông bờm xơ xác, bẩn thỉu, nhưng cái dáng
chân cao, mình thon, mũi khô, mắt sâu và sáng khiến A Sử vô cùng thích
thú. Ông thầm reo lên khi thấy ở tai con ngựa có xoáy. Khi còn sống, cha
của A sử đã dạy rằng: Phàm con ngựa nào có xoáy ở tai là rất thính,
nghe được xa và biết có thú dữ mai phục. Sau này điều đó được kiểm chứng
khiến ông thoát nạn và càng gắn bó với con bạch mã hơn. Ông cố nén nỗi
vui mừng khi thấy ở gối con bạch mã có đủ bốn xoáy. Người sành ngưạ gọi
đó là “tứ mục trung đồng” đặc biệt quý hiếm, con ngựa nào có đặc điểm
này đích thị là thiên lý mã. Con bạch mã về với A Sử chỉ mấy tháng trời
đã đổi khác hoàn toàn. Từ một hình hài còm nhom, yếu ớt nay thực sự là
một tuấn mã. Bộ lông trắng muốt được xén tỉa chải chuốt óng mượt, khắp
người cuồn cuộn cơ bắp. Người khắp vùng đều đồn đại về con ngựa quý.
Nhiều người sành ngựa đã trả A Sử số tiền lớn mong có được con bạch mã
nhưng chỉ nhận được nụ cười và cái lắc đầu dứt khoát của ông. A Sử đẩy
mấy gốc củi chụm bếp, ánh lửa bập bùng nhảy nhót. Ông mỉm cười nhớ lại
cái lần đi thăm người bạn ở bên kia biên giới. Đường núi cheo leo nhưng
con bạch mã vẫn phi vững vàng như trên đất bằng. Qua khúc ngoặt bỗng con
bạch mã khựng lại, cánh mũi phập phồng. A Sử chưa kịp gỡ khấu súng
khoác trên vai thì một con báo gấm từ trên vách đá lao bổ xuống. Con
bạch mã đảo ngưòi tung một cú đá hậu đánh văng con báo ra, đủ thời gian
cho A Sử hạ con báo bằng một phát đạn chính xác. Khi cơn nguy hiểm đã
qua, A Sử cứ ôm và vuốt ve mãi con bạch mã. Ông dụi đầu vào bộ lông mềm
ấm và thốt lên:
- Đúng là linh vật, ta đã mang ơn mày rồi. Ta thề không bao giờ xa mày, bạch mã ơi!
Chừng như hiểu ý chủ, con bạch mã dậm chân vươn cổ hí vang. A Sử nhớ
mãi, mùa đông năm ấy lạnh lắm, sương muối đóng thành lớp băng mỏng trên
mái nhà lợp gỗ thông và những nơi đất xốp. Cây cối cháy đỏ cả lá, người
già và trẻ con không xa được bếp lửa. Chính trong những ngày đó, A sử có
khách và cuộc gặp gỡ này quyết định số phận của con bạch mã.Khách là
một người đàn ông trung niên và là con trai duy nhất của người bạn kết
nghĩa của A sử. Trong một lần đi săn trên núi xa, không may A Sử bị rắn
độc cắn. Tuy đã nhanh tay hái một số lá cây theo kinh nghiệm của phường
săn nhai nuốt và đắp bã vào vết thương, nhưng A sử vẫn bị choáng, ông
chỉ kịp bắn một phát súng báo hiệu hú hoạ rồi thiếp đi. Khi tỉnh dậy, A
sử thấy một người đàn ông lạ cũng trạc tuổi ông đang mỉm cười rồi cất
tiếng lơ lớ:
- Hảo lớ! May mà ngộ đến kịp lớ…
Về sau A Sử
mới biết đó chính là người làm nghề gia truyền chữa rắn độc cắn. Ông ta
có cậu con trai duy nhất đã đứng tuổi mà vẫn chưa có con, thuốc thang
khắp nơi mà không có kết quả. Cứ nghĩ đến cái cảnh dòng họ bị tuyệt tự
là ông lại vô cùng buồn chán và cứ đi khắp nơi chữa bệnh cứu người, hy
vọng cái phúc sẽ đến và đúng là cái may, cái phúc đến cả với hai ông. A
Sử vốn có bài thuốc gia truyền chữa bệnh vô sinh do một gia đình người
Dao truyền cho nhân dịp ông cứu sống người con trai của họ đi săn bị tai
nạn trên núi cao. A Sử bắt mạch, thăm bệnh, cắt thuốc và tự tay sắc cho
đôi vợ chồng con người bạn mới. Rồi sự kỳ diệu đã đến, người bạn già
của ông có cháu, đặc biệt là cháu trai, niềm khao khát của cả gia đình
và dòng họ. Từ đó hai người kết nghĩa anh em, hai nhà coi nhau như một.
Năm ngoái người bạn bỏ ông và gia đình về với tổ tiên. Trước khi nhắm
mắt, người bạn già nắm chặt tay ông thều thào, trăng trối mong ông chú ý
chăm sóc giùm con cháu. Vừa bước vào cửa, người đàn ông sụp xuống chân A
Sử cầu xin:
- Con xin ông cứu giúp cho cháu nhỏ, lúc này chỉ có ông
mới cứu được cháu …A Sử vội nâng người đàn ông đang tím tái vì giá lạnh
dậy dìu tới bên bếp lửa. Sau khi uống cạn chén rượu nóng A sử đưa,
người đàn ông nói:
- Thưa ông, con trai con bị bệnh trọng
đã cả mùa đông này. Nó không đi lại được, cả dòng họ con đã chạy vạy
thuốc thang nhưng bệnh tình không chuyển, thậm chí còn nặng thêm. Gần
đây có vị danh y từ Sơn Đông tới mách cho một vị thuốc chắc chắn sẽ khỏi
bệnh…
Gỡ tẩu thuốc ra khỏi miệng A Sử vội hỏi:
- Thuốc gì? Người đàn ông ngập ngừng rồi nói:
- Dạ thưa, thầy thuốc dạy phải có cao hổ cốt nấu cùng một con ngựa bạch
toàn tính. Bên nhà, cha con còn để lại một bộ hổ cốt, chỉ hiềm một nỗi
khắp vùng không tìm ra con ngựa bạch nào.
Không khí như bỗng chùng
hẳn lại. Tiếng gió rít lùa qua khe vách ván thông sắc lạnh, tiếng than
củi nổ tí tách. Mùa A Sử nhìn lung vào bếp lửa. Ông cũng nghe nói tới vị
thuốc này, cao hổ nếu nấu riêng đã là vị thuốc quý tăng lực và chữa
xương khớp, khi nấu với ngựa bạch toàn tính sẽ quý vô cùng chữa khỏi
bệnh thấp khớp nan y. Mà phải là ngựa toàn thân trắng như tuyết phủ, mồm
đỏ, mũi đỏ, giờ ngọ đứng yên như chính con bạch mã của ông. A Sử chợt
giật mình, trái tim đau nhói như bị bàn tay vô hình bóp chặt. Ông hiểu
lời cầu xin chưa nói rõ của người đàn ông kia. Cứ nghĩ tới lúc phải vĩnh
viễn xa chú ngựa bạch là tưởng như ông không sao chịu nổi. Bất giác ông
hừ nhẹ trong cổ và cầm con dao để bên bếp lửa chém mạnh vào khúc củi
khiến tàn lửa bay tung như hoa cải. Người đàn ông giật mình quỳ sụp
xuống:
- Con xin ông tha lỗi. Cũng là việc cùng bất đắc dĩ con mới liều cầu xin ông. Xin ông thương cho cháu nhỏ.
A Sử chợt tỉnh. Ông nâng người đàn ông dậy nhìn trong đôi mắt mệt mỏi
như có ngọn lửa le lói niềm hy vọng. A Sử thầm nghĩ: “Ta biết lắm chứ,
ta với cha ngươi tuy không họ hàng nhưng tình hơn cốt nhục, mà con của
ngươi do đâu mà có kia chứ? Cho ngươi con ngựa mà ta quý như chính thân
thể ta, ta đau lắm, nhưng sinh ra làm con người thì phải biết cứu người
trong cơn hoạn nạn…” Sau cái đận ấy, A Sử ốm liền mấy tháng trời. Nhiều
khi ông không ăn không ngủ, cứ tha thẩn bên chuồng ngựa hay bãi cỏ bên
suối như tìm lại hình bóng con ngựa thân yêu.
Đang chìm trong ký
ức, A Sử chợt giật mình nghe tiếng gọi từ chân dốc, tiếng gọi của một
đứa trẻ vừa quen vừa lạ. Ông đứng bật dậy bước vội ra sân và bỗng sững
người lại. Nắng xuân chan hoà khắp núi rừng, trên các triền đồi lộc non
mơn mởn. Từ chân dốc, hai bố con cháu của bạn ông, người bạn kết nghĩa
đang phăng phăng ngược dốc. Thằng bé hồng hào khoẻ mạnh sà vào lòng ông
nghẹn ngào:
- Ông … nội!
A Sử ôm ghì lấy thằng bé. Ông dụi đầu
vào lòng nó cố giấu đôi dòng nước mắt, ông đặt nó xuống đất nhìn ngắm
một hồi rồi cả ba lại ôm chầm lấy nhau, tiếng cười vang động khắp núi
ngàn.
2002
Trần Vân Hạc
Thứ Ba, 22 tháng 3, 2016
Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016
Mùa Hoa ban Tây Bắc
Mùa hoa ban Tây Bắc với chàng lãng tử Trần Hòa Bình
MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN - 15-03-2016 02:49:25 PM
Sau những đợt
gió lạnh cuối cùng, nơi dốc đứng của những đoạn đường cheo leo hiểm trở
hoặc ở tận tít tắp những hẻm núi xa mờ, những cánh ban rừng - đặc sản
của riêng Tây Bắc bắt đầu lặng lẽ thi nhau nở… Mùa ban năm nay, tôi lại
vác máy quay lên rừng lên bản để thực hiện nốt bộ phim tài liệu “Đi tìm
hoa ban”. Chỉ có điều, tôi đi lần này đã không còn người bạn “lãng tử”-
nhà báo, nhà thơ Trần Hoà Bình…
Trần Hòa Bình ở Phù Yên - Sơn La
Mùa hoa ban năm ngoái, do điều kiện thời
gian, chúng tôi mới chỉ đi tới Mộc Châu, Thụân Châu, và quanh thị xã
Sơn la. Chúng tôi dự định mùa xuân năm nay sẽ cùng đi vào tận Sông Mã,
Quỳnh Nhai,v.v, thâm nhập sâu hơn vào cuộc sống của đồng bào Thái, Mông,
Dao, Khmú, Sinhmun… Đã có dấu hiệu của gió Lào, cùng với sương mù, khói
đốt nương, không gian trở nên mờ ảo, đôi lúc nhạt nhoà, tựa nước mắt
lau vội của người con gái trong truyền thuyết hoa ban khi lang thang qua
rừng sâu núi thẳm mà không tìm được người yêu… Những kỷ niệm về bạn ào
ạt cuốn về như lũ ống… Hoá ra, Trần Hoà Bình cũng mắc “cơn nghiện” miền
núi như tôi, thậm chí còn nặng hơn. Mỗi lần lên Hoà Bình, Sơn La, Lai
Châu, anh lại có thêm những người bạn mới - ở các trường đại học, trung
học dạy nghề, phổ thông, cán bộ trẻ ở địa phương… - những người đã hâm
mộ anh qua các chuyên mục Tầm Thư, Tiến sĩ giấy, và trân trọng nghe anh
nói chuyện, đọc thơ. Tại Sơn La, chúng tôi thường ôn lại kỷ niệm về
những người bạn sư phạm dạy văn đã từng sống nơi đây - trong đó có Châu
Hồng Thuỷ, Văn Giá, Nguyễn Phượng, v.v. Có lần, anh lên Sơn La thuê nhà
trọ cả tuần để ngồi hoàn chỉnh một cuốn sách “com-măng” của một nhà xuất
bản. “Tôi mê rừng núi…Chúng giúp tôi có cảm hứng- không phải để làm
thơ, mà để vượt qua những trang bản thảo cần nộp đúng hợp đồng…” Anh đã
lý giải thế. Song, những lần lang thang cùng Bình trên đất Phù Yên, Bắc
Yên, chợ tình Khau Vai, cùng nhiều địa điểm của Sơn La, Hà Giang, Hoà
Bình, Cao bằng…- để tham dự một lễ hội nào đó, để lấy tư liệu viết báo,
hoặc chỉ để xả hơi, để đỡ “cơn nghiền” nhớ miền núi, trong những lần ấy,
tôi đã nhận biết được bao dự định, bao sự ấp ủ cho văn học của anh!
Giữa những cuộc vui, nếu để ý, thường thấy một vài khoảng lặng kín đáo ở
anh - phải chăng đó là những ý thơ vụt hiện, những trải nghiệm đang tìm
từ ngữ thích hợp? Trần Hoà Bình - con người của công chúng, thường
xuyên “bơi” trong công chúng lại thường tạo một con đường đi ngược lại
đám đông để tìm về với chính mình, đặng làm một cái gì đó thực đích đáng
cho văn chương - và việc hay tìm đến miền núi Tây Bắc của anh chính là
một biểu hiện cụ thể…
Trần Hòa Bình với gia đình nhà thơ Vương Trung tại Thuận châu- Sơn La
Quả vậy, bao năm nay, Bình đã là một
“lãng tử” say đắm cần cù góp nhặt cái Đẹp cùng lý do tồn tại của chúng,
để dành dụm cho Thơ. Và, thời gian lãng du của anh dành cho vùng núi-
đặc biệt vùng núi Tây Bắc là đáng kể nhất. Anh ngẩn ngơ trước một cánh
hoa mắc-cọoc ngược sáng trong vườn nhà thơ Vương Trung, hay trước một
vệt ban rừng ngập nắng sớm dọc đường miền Tây. Bình mê mải trước một
phiên chợ lộng lẫy sắc màu vùng cao, hoặc bên một chiếc túi thổ cẩm đơn
sơ quà tặng của bạn… Anh rất thích bài bài dân ca Xá Tây Bắc và đòi tôi
chép lại cho anh làm tư liệu: Cây trong rừng cây nào đắng nhất/ Rễ
trong rừng rễ nào cằn nhất/ Cũng không đắng bằng cuộc đời người Xá/ Cũng
không cằn bằng cuộc đời người Xá làm tôi đòi… Người vẫn mô phỏng
dân ca Mông và đọc một cách say sưa cho bè bạn nghe: “Lời anh sẽ về bên
gối lạnh/ Bao dịu dàng cay đắng đêm nay…” cũng là người “Quỳ trước núi
mà tin thôi em ạ /Ai trong đời chẳng có một Khau Vai”, và có nỗi “luyến
tiếc” đủ sức mê hoặc nhiều người chưa hề đặt chân tới Tây Bắc: “Sao
luyến tiếc một nơi chưa hề đến/ Này Lai Châu mưa ướt hết thơ rồi…”.
Trong ngày Hội hoa Anh đào tại Hà Nội cách đây vài năm, Bình đã khiến
tôi ngạc nhiên, không phải chỉ vì sự phẫn nộ hiếm hoi của anh. Anh căng
thẳng nói: “Chỉ với hai cây Anh đào thật mà người ta làm nên cả một lễ
hội, còn biết bao rừng hoa Ban tuyệt đẹp trên Tây Bắc thì đang bị đốt,
bị chặt phá, và chẳng mấy ai thấy có trách nhiệm phải bảo tồn chúng…”.
Tôi đã yêu cầu anh nói lại điều bức xúc ấy trước ống kính máy quay, bên
những cành hoa Anh đào xa lạ và ào ạt đám đông “xẻ thịt” chúng…
Mùa xuân này, tôi đã không có Trần Hoà
Bình đi bên cạnh để cùng nhau xuýt xoa trước một cành ban chơi vơi bên
vực thẳm, hay cùng lặng người trước những lời “khắp” Thái da diết ân
tình bên mâm cơm hiếu khách của đồng bào: “à…ới…ì…Rượu này là rượu
tình rượu nghĩa, không phải rượu phản rượu thù… Bữa ăn dù chỉ có củ mài
măng đắng, hãy coi như cơm trắng cá thịt…Dù có ăn hay không cũng đừng
nên oán trách…”- “Xuân về, hoa ban lại nở, bản làng xinh tươi, xin kể
lại câu chuyện đau lòng…” (dịch từ tiếng Thái). Miền rừng núi Tây
Bắc từ nay mãi mãi vắng bóng chàng nhà báo - thi sĩ “lãng tử”… Nhưng
trong cánh hoa ban trắng muốt có vệt tím bầm ở giữa - thứ hoa kỳ lạ
tượng trưng cho Tình yêu đôi lứa và cũng là món ăn đỡ đói lòng ngày giáp
hạt cũng đã kịp lưu giữ một giọt lệ vui sướng của anh - một tâm hồn
nặng nghĩa tình với Tây Bắc, để truyền thuyết về nó giàu thêm xúc cảm,
và có thêm một đôi cánh thơ nhỏ đưa con người ta đến cõi mộng, cõi đẹp -
nơi chỉ có tình người chân thật…
_______________________
Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016
Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016
Phố Tết
Hạt Cat_Diệu Sinh
Em
lại đi phố Tết Hà Nội xưa
Nắng vàng nao nao tâm trí
Chiều êm nhẹ
Ngọn gió trinh nguyên...
Đường Hai Bà Trưng vắng vẻ rất hiền
Trường Tô Hiệu nhà ba tầng rêu
cũ
Đức Mẹ rì rầm ru Hài Đồng Chúa ngủ
bé thơ em năm tháng học
trò.
Kỷ niệm cồn giấc mơ
Ngày tháng trôi quá khứ
Hà Thành yên bình
Hà Thành lặng lẽ
giành cho ký ức xôi xa.
Em đi men Bờ Hồ hoa
Cũ mới phố quen người lạ
Tết thản nhiên khoác đỏ vàng cây lá
Trời thản nhiên rải chanh cốm nắng
đường
Cựa quậy cũ xa dậy nỗi nhớ thương
Bóng hình Ông bà... Cô chú
Mẹ phúc hậu áo nhung huyết dụ
Khăn nhung đen óng chiều...
Tết đưa em về xưa cũ thương yêu
Về Hà Nội dịu hiền năm tháng mẹ.
Thứ Năm, 25 tháng 2, 2016
Dạ khúc Nguyên tiêu
Bùi Nguyệt
Bích Câu dạ khúc vẫn
mong chờ
Xao xuyến nhạc lòng dậy tiếng tơ
Nét bút thẳng ngay tôn nghĩa cử
Trang đời trong sáng trọng tình thơ
Nhân văn khắc họa bao chân thực
Cuộc sống vun bồi những ước mơ
Chia sẻ cùng nhau nguồn cảm xúc
Hồn quê nét đẹp chẳng phai mờ.
Xao xuyến nhạc lòng dậy tiếng tơ
Nét bút thẳng ngay tôn nghĩa cử
Trang đời trong sáng trọng tình thơ
Nhân văn khắc họa bao chân thực
Cuộc sống vun bồi những ước mơ
Chia sẻ cùng nhau nguồn cảm xúc
Hồn quê nét đẹp chẳng phai mờ.
Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016
Ghi ở Đền Bích Câu
Hoàng Xuân Họa
Trước phố Cát Linh hồn tôi lát gạch l
khỏi rêu phong mờ phủ quán Binh Câu
ai dám cùng tôi bơi theo ngòi biếc
đáp bến Ngọc Hồ dò biết nông sâu
khỏi rêu phong mờ phủ quán Binh Câu
ai dám cùng tôi bơi theo ngòi biếc
đáp bến Ngọc Hồ dò biết nông sâu
muốn lên cầu mộng đền Bạch Mã
Giáng Kiều ơi nàng ẩn ở nơi đâu
hãy bước ra bén duyên cùng chàng Tú
Hà Nội muôn năm đẹp mối tình đầu!
Giáng Kiều ơi nàng ẩn ở nơi đâu
hãy bước ra bén duyên cùng chàng Tú
Hà Nội muôn năm đẹp mối tình đầu!
Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016
Xuân xa xứ
Bài thơ Xuân ở nơi đây con viết
Năm mới sang điểm hoa tuyết trên cành
Nỗi nhớ trong con lại cồn cào da diết
Bếp lửa hồng mẹ gói bánh chưng xanh
Mẹ lặng lẽ giữ ấm hồng ngọn lửa
Mái nhà xưa vương vấn khói lam chiều
Bao khát khao trào dâng trong lòng mẹ
Gói cho đầy nỗi nhớ gửi con yêu
Nơi xa xứ lặng thầm từng khoảnh khắc
Nhớ mẹ hiền chải mái tóc cho con
Bàn tay mẹ nhẹ gỡ từng sợi rối
Giữ nuột nà suối tóc phủ lưng thon
Nhìn thông xanh trên cành tuyết phủ
Nhớ đào, mai đượm nắng ấm quê nhà
Niềm hạnh phúc ngập tràn trong giấc ngủ
Con ngả đầu vào lòng mẹ, vai cha
Hình dáng anh với nét cười đôn hâu
Của ngày xưa trong tiềm thức hiện về
Đêm Trừ tịch cùng nhau đi hái lộc
Tiếng nói cười náo nức cả trời khuya
Chông chênh quá nơi đây bao năm tháng
Tiếng xuân về khúc khích gợi tình ai
Ôi! da diết những mùa xuân khát vọng
Vẳng tiếng gà xao xuyến buổi ban mai.
Bùi Nguyệt.
Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016
Ta về
Hồ Thanh Bình
Ta về rước sợi nắng sang
Mặc xuân xanh biếc đa mang với mùa
Nẻo trần gió vẫn đùa mưa
Nẻo người gieo thiếu gặt thừa .. Trầm Luân
Ta về đếm Sắc trả Không
Ta về nhóm bếp lửa hồng reo vui..
Ta về rước sợi nắng sang
Mặc xuân xanh biếc đa mang với mùa
Nẻo trần gió vẫn đùa mưa
Nẻo người gieo thiếu gặt thừa .. Trầm Luân
Ta về đếm Sắc trả Không
Ta về nhóm bếp lửa hồng reo vui..
Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2016
Vẻ đẹp mong manh
"Vẻ đẹp rất mong manh
Hạt sương treo phiến lá
Khi lòng người vô ngã
Thế giới hóa an lành.
Hạt sương treo phiến lá
Khi lòng người vô ngã
Thế giới hóa an lành.
Vẻ đẹp rất mong manh
Cành hoa lan trước gió
Thị phi lòng buông bỏ
Thế giới một màu xanh.
Cành hoa lan trước gió
Thị phi lòng buông bỏ
Thế giới một màu xanh.
Đông Tùng
Thứ Hai, 21 tháng 12, 2015
Dũng cảm lên con
DŨNG
CẢM LÊN CON!
Cho con gái Mai Quyên
Nửa
đêm, tiếng sét giật cửa kính
Con
choàng sợ hãi
Bố
vỗ về con bằng lời ru do bố tự tạo ra:
Dũng
cảm lên con, dũng cảm lên con…
Phải,
hãy dũng cảm lên con, dù con đang làm một “kẻ ăn xin”1 rất lâu nữa trước
khi là người biết cho và có khả năng cho người khác…Bởi lòng dũng cảm là cội
nguồn của Nhân hậu, Lương thiện - những danh từ đã bị lạm dụng, bị lợi dụng, thậm
chí bị đánh cắp nội dung từ những người đáng yêu, trong đó có kẻ “ăn xin” thần
thánh như con.
Con
cần có đủ lòng dũng cảm để sẽ không bị chết chìm trong những dòng thác ngôn từ hình
ảnh của cái thời mà tất cả biến thành quảng cáo và mọi giá trị đều bị quy thành
vàng thành tiền dù là tiền vàng dương gian hay tiền vàng âm phủ.
Dũng
cảm lên con, để nhỡ khi không còn bố trên đời, con sẽ không hề lạc lõng trước những
gì bố để lại cho con kể cả cái đói cái nghèo sự dày vò mệt mỏi bố từng vượt qua
dù là bằng cách ngạo nghễ hay não lòng nhưng con không phải trả nợ cho bất cứ
điều gì cho bất cứ ai và không xấu hổ về người đã trót sinh ra con.
Dũng
cảm lên con, để mai sau nếu có khóc bên thảm án Lệ Chi Viên, con còn có nụ cười
sáng lệ trước ngọn đèn xanh hoà mưa đêm2…Con sẽ cần tới lòng dũng cảm
không chỉ để cõng nổi chiếc cặp sách quá tải trên lưng hay chịu đựng được ánh mắt
của cô giáo khi chẳng chịu học thêm mà còn để có sức dùng được ngọn trúc của Ức
Trai dò lòng suối tìm đến cánh rừng Mai nguyên thuỷ của Tình người…
Con
cần đủ lòng dũng cảm để có thể hiểu thực chất hai chữ "đồng bào" chính
là ý nguyện dâng hiến cao cả cho phần máu mủ ruột rà của con đang chịu bao khổ
đau bất hạnh trong cuộc mưu sinh rủi ro và để biết căm giận những kẻ tham lam độc
ác chà đạp lên đồng bào mình.
Lòng
dũng cảm giúp con bớt nghĩ về bản thân để cảm thương hơn cho số phận cô con gái
bé bỏng bị bão cuốn trôi giữa khi người cha lấn biển gian nan và khi đó con đã vô
tình mang tâm hồn của Đức Mẹ Maria hay Đức Quán Âm Tống Tử khiến bố nghiêng mình
trước con đúng hơn là trước cái lý do bố tồn tại trên cõi đời này.
Lòng
dũng cảm cũng chính là khát vọng của con tìm lại những điều trong lành dường
đang chạy trốn trong thần thoại cổ tích giúp bố vẫn là bố đi qua cái thời buổi
mà sự đểu giả đốn mạt thường không bị trừng trị nhưng lòng dũng cảm nhỏ bé của
con sẽ là đốm lửa nhỏ góp vào đống lửa của Lương tri đang phẫn uất cần được thổi
bùng.
Sau
này nếu con hỏi: con tiếp tục lấy đâu ra lòng dũng cảm? Con có cả cuộc đời trước
mặt cộng với nỗi buồn và sự phẫn nộ của bố trước những gì đểu cáng để tìm câu
trả lời…
Dũng
cảm lên con !
____________________
1.Thơ R.Tagore (Bé có hàng đống vàng đống ngọc/ Nhưng
bé đã đến mặt đất này/ Như một kẻ ăn xin)
2. Ý thơ Nguyễn Trãi
Đạo
diễn-nhà văn Mai an Nguyễn Anh Tuấn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








