Thứ Bảy, 13 tháng 5, 2017

Về Cù lao



Về Cù lao không anh ?
Sông Tiền mùa này đang ngọt
Và gió
Gió cứ bâng khuâng lời chim hót
Và hoa
Hoa lang thang khắp nẻo bờ dài
Về Cù lao nhặt những nụ cười
E ấp trong vành nón lá
Những ánh mắt vắt đôi bờ quen lạ
Gọi ngày vui thung thăng !
Về Cù lao lấy lại thăng bằng
Với nhịp khúc đờn ca phóng túng
Áo Bà Ba đã thôi ngày quàng súng
Mảnh mai
Ngoan dịu
Thanh tân !
Về Cù lao lắng tình dừa theo mỗi bước chân
Iu ấp bờ kinh
Ôm dài bến nước
Lục bình trôi xuôi gió tóc dừa chải ngược
Ì oạp chân dừa con sóng vu vơ
Dừa hóa thân như một giấc mơ
Thơm ngọt nghĩa tình
Lung linh dáng vẻ …
Về Cù lao anh nhé
Chỉ một lần thôi nhưng để nhớ một đời

Lý Viễn Giao
 


Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Tôi kêu gọi một cuộc cách mạng tâm linh



                                                                                                                 

                                                                                                                        Tuệ Uyển dịch

Chúng Ta Có Thể Sống Không Cần Tôn Giáo, 
Nhưng Không Thể Không Có Tâm Linh

          Như một tu sĩ Tây Tạng, tôi được giáo dục để tôn kính những nguyên tắc của Phật Giáo. Toàn bộ cung cách suy nghĩ của tôi được hình thành bởi sự kiện tôi là một là một đệ tử của Đức Phật, nhưng tôi muốn vượt qua khỏi những ranh giới tín ngưỡng của tôi để làm sáng tỏ những nguyên tắc phổ thông nào đó, với mục tiêu giúp đở người khác tìm hạnh phúc.
Dường như là quan trọng đối với tôi để phân biệt giữa tôn giáo và tâm linh. Tôn giáo bao hàm một hệ thống những niềm tin căn cứ trên nền tảng siêu hình, cùng với những giảng dạy về giáo lý, nghi lễ, hay cầu nguyện.
Tuy nhiên, tâm linh, tương ứng với sự phát triền những phẩm chất nhân bản chẳng hạn như từ ái, bi mẫn, kiên nhẫn, bao dung, tha thứ, hay một ý nghĩa của trách nhiệm. Những phẩm chất nội tại này, là nguồn gốc của hạnh phúc cho tự thân và những người khác, là độc lập với bất cứ tôn giáo nào. Đó là tại sao, thỉnh thoảng toi đã tuyên bố rằng chúng ta có thể sống mà không cần tôn giáo, nhưng không thể không có tâm linh. Và một động cơ vị tha là một yếu tố tổng hợp những phẩm chất mà tôi định nghĩa như tâm linh.
Cách Mạng Tâm Linh Và Cách Mạng Đạo Đức
TÂM LINH, TRONG QUAN ĐIỂM của tôi, bao hàm sự chuyển hóa tâm thức. Cách tốt nhất để chuyển hóa nó là làm quen thuộc với sự suy nghĩ trong một cung cách vị tha hơn. Thế nên đạo đức là căn bản cho mọt tâm linh thế tục cho tất cả mọi người, ta không bị giới hạn trong một nhóm những người tin tưởng trong một tôn giáo này hay tôn giáo kia.
Cuộc cách mạng tâm linh mà tôi chủ trương không phải là một cuộc cách mạng tôn giáo. Nó tương ứng với một sự định hướng lại thái độ đạo đức của chúng ta, vì nó là một vấn đề của việc học hỏi để đem những nguyện vọng của người khác vào sự quan tâm của chúng ta tối đa cũng như của chính chúng ta.
Cuộc cách mạng tâm linh mà tôi chủ trương không tùy thuộc vào những điều kiện bên ngoài nối kết với tiến trình vật chất hay kỷ thuật. Nó sinh ra bên trong, và được động viên bởi một khát vọng thâm sâu là để chuyển hóa tự thân nhằm để trở thành một con người tốt đẹp hơn.
Người ta có thể phản đối rằng một cuộc cách mạng tâm linh không thể giải quyết những vấn nạn của thế giới đương thời. Họ có thể thêm rằng, trên trình độ xã hội, bạo động, say sưa, ma túy, hay sự mất mát những giá trị gia đình nên được đối phó với căn bản của chính họ qua những lượng định đặc thù. Nhưng chúng ta biết rằng từ ái hơn và bi mẫn hơn sẽ giới hạn sự mở rộng và tính nghiêm trọng của những vấn nạn này. Không phải tốt hơn để tiếp cận chúng và xử sự với chúng như những vấn nạn của một trật tự tâm linh hay sao?
Tôi không cho rằng những vấn nạn như vậy sẽ biến mất ngay lập tức, nhưng tôi thật sự nói rằng bằng việc giảm thiểu chúng đối với lãnh vực xã hội và bằng việc thờ ơ không gian tâm linh của chúng, thì chúng ta không đang cho chúng ta phương tiện để giải quyết chúng trong một cung cách lâu dài. Tâm linh, khi chúng ta thấu hiểu như sự phát triển những giá trị nhân bản nền tảng thì chúng ta có mọi cơ hội để cải thiện cuộc sống của những cộng đồng chúng ta.
Sự Bệnh Hoạn Của Tính Hai Mặt
THẬT QUAN TRỌNG ĐỂ tỉnh giác với sự liên hệ hổ tương bằng việc nhận ra rằng một hiện tượng xảy ra do bởi nhiều nguyên nhân và điều kiện phức tạp. Giảm thiểu thành một nhân tố đơn độc sẽ đưa đến một sự phân liệt thực tại. Việc nhận thấy sự liên hệ hổ tương cuối cùng đưa đến một sự ít bạo động hơn. Hơn thế nữa vì khi chúng ta đặt mình vào một phạm vi rộng rãi hơn, chúng ta trở nên ít bị tổn thương hơn với những hoàn cảnh ngoại tại và có được một sự phán xét lành mạnh hơn. Bất bạo động không giới hạn trong một sự vắng mặt bạo lực, vì nó là vấn đề của một thái độ năng động, được động viên bởi mong ước mang lại sự tốt lành cho người khác. Nó tương đương với lòng vị tha.
Lòng yêu thương vị tha thường bị hiểu sai. Nó không là vấn đề của việc quên lãng chính mình vì lợi ích của người khác. Trong thực tế, khi quý vị làm lợi ích cho người khác, quý vị làm lợi ích cho chính mình do bởi nguyên tắc liên hệ nhân duyên hổ tương. Tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng tâm hồn quý vị và đem nổi khổ đau của người khác vào trong chính mình. Lòng vị tha thay đổi tính khí của chúng ta, tính tiếu lâm của chúng ta, những nhận thức của chúng ta và cho phép chúng ta phát triển một sự thanh thản hơn, một tính khí bình lặng hơn. Ngược lại với lòng vị tha làm chúng ta dễ bị tổn thương với những hoàn cảnh ngoại tại hơn.
Chủ nghĩa vị kỷ chống lại tự nhiên, vì nó phớt lờ sự liên hệ nhân duyên hổ tương. Nó là một thái độ đóng lại tất cả những cánh cửa, trái lại lòng vị tha phát triển một tầm nhìn sâu sắc. Chúng ta nên phát triển cảm giác thuộc về một gia đình nhân loại rộng lớn. Những nguyên nhân và điều kiện của tương lai chúng ta một cách rộng rãi nằm trong tay của chúng ta.
Việc Không Để Ý Mối Liên Hệ Nhân Duyên Hổ Tương Của Những Người Phương Tây
MỘT CÁCH TỔNG QUÁT, tôi rất ấn tượng với xã hội phương Tây; tôi đặc biệt ngưỡng mộ năng lượng của nó, sự sáng tạo của nó, và lòng khao khát tri thức của nó. Tuy thế, một số yếu tố nào đó trong cung cách sống của phương Tây dường như đáng lo ngại đối với tôi. Tôi đã chú ý, thí dụ, người ta đã sẳn sàng nghĩ về mọi thứ như hoàn toàn trắng hay hoàn toàn đen, như hoặc là thế này hay thế kia, quên lãng thực tại của mối liên hệ nhân duyên hổ tương và tương đối. Họ có khuynh hướng đánh mất tầm nhìn của những vùng xám bất định giữa những ý kiến.
Một điều nữa trong sự quán sát của tôi là có nhiều người ở phương Tây sống một cách rất thoải mái trong những thành phố lớn, trong khi vẫn duy trì sự cô lập với đại đa số nhân loại. Thật đáng ngạc nhiên rằng với một sự nhàn hạ vật chất như vậy và với hàng nghìn anh chị em hàng xóm, một số lớn con người như vậy lại chỉ có thể biểu lộ tình cảm thật sự với những con chó và con mèo của họ. Trong nhãn quan của tôi, điều đó chứng tỏ một sự thiếu vắng những giá trị tâm linh. Một phần của vấn nạn có thể là sự ganh đua căng thẳng – một nguồn gốc của sợ hãi và bất an sâu sắc – liên hệ với đời sống trong những xứ sở như vậy.

                         Trích từ quyển My Spiritual Journey của Đức Đạt Lai Lạt Ma
                                      Ẩn Tâm Lộ, Wednesday, January 20, 2016





Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

Vô đề


"Rũ bỏ mọi ưu phiền
Bên chén trà tịnh vị
Làn hương không vị kỷ
Phảng phất lời kinh thiêng".

Đông Tùng

Thứ Bảy, 22 tháng 4, 2017

Cuộc chiến Loa phường




          Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung  là người phát hiện ra sự lỗi thời của cái loa phường và cũng là người đề xuất khai tử cho nó . Sau ý tưởng này , dư luận xã hội bàn tán lùm xùm dẫn đến một cuộc thăm dò kiểu như trưng cầu dân ý . Kết quả 90% đồng tình với ông chủ tịch ! Những tưởng kết quả này sẽ là lời cáo chung cho loa phường . Nhưng không , nó vẫn còn và nói không ngoa rằng có phần hoạt động sôi nởi hơn trước nữa kia . Cái lý để nó sống và sống bừng lên là do bản án cuối cùng luận cho nó chưa minh bạch . Ừ thì ở các xã , thị trấn , thị xã ngoại thành vẫn duy trì loại hình này chẳng nói làm gì . Nhưng với các quận nội thành nó được “Hạn chế tối đa” ! Vậy số còn lại tối thiểu là bao nhiêu ? Không đặt tại khu chung cư , trường học , bệnh viện và nơi có nhiều người cao tuổi ! Vậy loa được đặt cách những nơi này là bao nhiêu hay chỉ không đặt vào chính chỗ đó ?
          Những quyết định được đưa ra rất cần cụ thể và được thường xuyên kiếm tra mới mong mang lại hiệu quả . Chuyện cái loa phường và cái vỉa hè nên được quan tâm như nhau kẻo chúng tỵ nạnh nhau thì câu chuyện sẽ mất đi tính công bằng và cái đích hiệu quả . Xin đừng coi nhẹ chuyện cái loa phường vì nó cũng có thể chứa đựng lợi ích nhóm trong đó chứ chả chơi !

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Giọt lệ mo hồn

                                                                                                           Nguyễn Anh Tuấn
 
Hai giờ chiều, để thực thi một nhiệm vụ tối đặc biệt, Cư bỏ xe con công vụ, một mình nhảy xe ôm đi một chặng đường dài, rồi xuống đò tới một trong những bản cuối cùng còn vướng mắc giải tỏa: bản Púng Lầm.
Trên con thuyền đuôi én sứt sẹo vượt sóng, Cư nhìn về phía thượng nguồn. Hàng chục cây số dọc bờ sông, cách đây không lâu từng là những khu dân cư trù phú, giờ đã tiêu điều hoang vắng dành cho lòng hồ thủy điện. Từ ngoài bến vào bản, lối đi trồi sụt, cỏ rậm rì. Vài ba con khỉ rừng thập thò trong các mảnh vườn lút cỏ. Những cối giã gạo bằng nước và bằng chân chỏng trơ đã mốc thếch. Vài túp lều dựng tạm bằng nilông, tôn lợp, tre nứa... Có người quay về chỉ để thu hoạch nốt vườn tược nương rẫy, có người khăn gói quay lại hẳn bản cũ. Và cũng có người quyết không đi đâu cả! Tại đây, theo một nguồn tin, các gia đình cố thủ còn dấu hai khẩu súng kíp, họ tung lên "tai rừng" những tuyên bố đáng sợ! Ba lần cán bộ của Ban đã tới thuyết phục, rồi đều phải quay về, lắc đầu. Một cuộc họp liên tịch căng thẳng. Cưỡng chế! Cư như bị á khẩu. Kinh hoàng. Sao cứ phải gạch vỡ, nhà cháy, máu đổ?!... Nhưng tình hình quá nghiêm trọng, lại trước một tập thể "cây đa cây đề", Cư tạm bó tay. Trước đó, Cư và một số người trẻ trong Ban đã không chỉ làm "Dân vận" mà còn phải làm "Quan vận" nữa! Chính anh là người kiến nghị để đồng bào được di chuyển ngôi sàn đến nơi tái định cư, phù hợp với nguyện vọng, tập quán. Và không chỉ một lần, Cư xin trực tiếp đến ăn ngủ tại những gia đình chây lỳ, khiến vợ anh phải bồn chồn lo lắng cả đêm. Nhưng lần này...
Vợ Cư, một cô giáo người Thái dạy phổ thông trung học là người đầu tiên được anh tâm sự về các diễn biến trong và sau cuộc họp ( Dĩ nhiên là không có hai khẩu súng kíp!). Cư đã gặp trưởng Ban xin được giải quyết êm thấm vụ này. Ông chỉ tay lên trên. Cư đã phải gõ vài cửa, bằng sự nhẫn nại mà không hiểu vì sao anh có được, cùng những lời hứa như đinh đóng cột. Anh được toại nguyện, kèm sự ái ngại không dấu diếm của những người "ra ơn lần cuối" cho anh... Trước khi đi, thấy vợ lúi húi nhét ếp-khẩu2 còn lựng thơm nếp nương vào cặp, Cư xua tay: "Khỏi cần. Vào bản Thái mà!" Chị cứ cài lại chiếc cặp căng phồng. Cư với túi thổ cẩm đang treo góc nhà, phủi bụi, rồi lấy ếp-khẩu, tập sách truyện, cuốn sổ tay, chiếc đèn pin và con dao găm từ cặp chuyển vào túi. Nghĩ sao, anh bỏ cuốn sách và con dao ra. Chị lặng đi nhìn anh, không dấu được nỗi thảng thốt trong đáy mắt: "Anh thận trọng nhé... Người bản ấy có súng...". Anh nói như quát: "Ai bảo em thế?".
Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh... Cư sinh ra, lớn lên ở phố núi, học chuyên nghiệp xong vào cơ quan Nhà nước, phải tới đận làm công tác di dân, anh mới thực sự được sống với vui buồn của người dân bản. Lần đầu tiên anh mới có dịp thấm hiểu nỗi day dứt nhớ thương đàn gia súc mà người phụ nữ vẫn hàng ngày chăm sóc, giờ phải chia xa: "Ở lại nhé, đàn vịt nhỏ thường đẻ trứng/ Đàn gà nhỏ thường gáy của ta ơi!/ Chiều chiều ta không còn được nắm gạo xuống chăm" 3... Cũng lần đầu tiên, khi tận mắt chứng kiến cảnh phụ nữ già trẻ của một bản đều khóc ở lễ Lúng ta (Gội đầu) lần cuối bên đoạn sông sẽ biến mất, Cư mới được cảm nhận bằng trực giác thế nào sự gắn bó của con người với quê hương, xứ sở...
Một người đàn bà địu ngô từ nương bên kia sông về bản. Trò chuyện đôi câu với chị, Cư vỡ lẽ, vì sao thầy dạy văn cũ của anh, một nhà báo trung ương, tháng trước đã từ chối đề nghị của trò cũ đang là một quan chức, không muốn đi cùng anh bằng phương tiện của Ban để tới các địa điểm giải phóng lòng hồ. Ông vác máy quay đi một mình, lang thang nhiều ngày qua các làng bản đã hay sắp di dời, ghi lại tâm tư của người dân. Chết thôi, phải lập tức đề nghị ông giữ kín những tư liệu đó, để khi thành công thủy điện công bố cũng chưa muộn. Nhưng chắc mình lo xa quá. Đúng là "cầm đèn chạy trước ô tô"! Cư mỉm cười tự diễu. Song ngay lập tức, một nỗi lo sợ bủa vây anh. Một nòng súng đang bí mật theo dõi mọi hành tung của anh, chỉ đợi chút gì thất thố hay bất cẩn là sẽ tóe lửa. Rồi sau đó có thể là một, hai ngôi nhà bốc cháy đùng đùng. Gai ốc bỗng nổi lên. Cư đứng lặng, hít một hơi thở thật sâu tự trấn tĩnh. Khi đã bớt hoảng loạn, lòng thương vợ con chợt len lỏi tận ti vi huyết quản. Tay anh bất giác sờ lên chiếc ếp-khẩu, dường để tìm một chỗ dựa cần thiết. Giọt lệ giấu vội của vợ lúc quay ngoắt đi chập chờn ẩn hiện. Lúc này, chắc cô ấy đang lo lắng đến tê dại. Anh chợt ân hận đã nói như quát khi tạm biệt. Lần này, đâu phải như mọi lần... Nếu một cô gái gia đình cán bộ quen sống từ bé ở đô thị, phải sống trong cảnh sắp rời bỏ ngôi nhà sàn như người con gái của Xống chụ son sao: "Ở lại nhé, nái lợn đen ở gầm sàn/ Chiều chiều ta không được xách đậu cám xuống cho ăn", thì cô ấy sẽ nghĩ gì? Cư tỉnh táo trở lại. Đồng thời, một niềm rưng rưng chợt dấy lên... Cư chưa được biết những tư liệu của thầy giáo cũ có những gì, nhưng anh đã xem phóng sự "Giã biệt Cà Nàng" của ông, ở đó anh đồng cảm với tình thương, sự mến phục nghẹn ngào trước sự hy sinh cho nghĩa cả của đồng bào.
Mặt trời vừa lặn sau dãy núi bên kia sông. Núi liền sẫm đen lại hung dữ. Sương mù ập xuống. Bên này sông, bản cũ hoang vu càng thêm lạnh lẽo trong màn sáng lem nhem, mờ ảo. Cư đã quay lại bến sông, kịp hỏi han ghi chép thêm tin tức qua mấy đứa trẻ trai đang bơi lội, đùa nghịch. Một đứa tỏ ra biết kỹ: "Hai nhà bắc ván thông nhau. Cửa sổ có bao cát. Có cả súng kíp mua của người Mông tận Co Tòng cơ!". "Thế các cháu không đi học à?"- Cư ngắt lời nó như thể xóa bỏ cái ấn tượng khó chịu bởi sự hồn nhiên của trẻ thơ trước tội ác chưa xảy ra. Hỏi xong mới thấy mình vô duyên. Trường nào ở chốn này! Chúng nhìn lạ lùng. "Chú là cán bộ di dân à? Không phải, vì không có cặp da!"- "Chú là ai thì cũng là khách của bản. Tập tục người Thái ta thế nào?". Một đứa láu táu: "Chú vào nhà cháu, cháu mời chú uống nước...- Nó ngần ngừ - Nhà cháu mấy hôm nay ăn cháo ngô rồi...- Mắt nó sáng lên - Nhưng chú vào hai nhà ông Khem, ông Bình sẽ được mời cơm cá đấy! Họ trữ lương thực để ở lại bản thật lâu mà". Cư bật hỏi: "Thế nếu nước hồ dâng lên thì sao nào?". Đứa lớn nhất trạc tuổi con gái út anh, vẻ trịnh trọng: "Họ bảo không thèm di vén lên, mà chìm cùng nước!". Một đứa đế thêm: "Nhưng không chết đuối bởi thuồng luồng đâu nhé! Tự giết cả nhà để nước làm mồ chôn". Cư thoáng rùng mình. Sực nhớ, anh lấy ếp-khẩu xôi đưa cho lũ trẻ. Chúng rụt rè nhìn nhau. Chắc thấy anh khẩn khoản, đứa lớn nhất cầm lấy. Rồi chúng lại nhìn nhau vẻ nghi ngại. Cư mỉm cười: "Chú không đói.".
Bọn trẻ liền xúm quanh đứa cầm ếp-khẩu, mắt hau háu chờ chia phần. Ánh sáng nhập nhoạng trên những gương mặt hốc hác, lam lũ trước tuổi vì đói ăn và những ngày tháng sống hoang dại. Cư chợt nhớ câu chuyện mẹ kể khiến anh thổn thức suốt thời thơ ấu: có một gia đình nghèo đông con, đúng năm hạn lớn, người mẹ kiệt sức. Người chồng sang nhà tạo bản vay được một nắm gạo, dành tới khuya nấu cháo cho vợ. Nhưng khi muôi bát lỡ chạm nhau, bọn trẻ đã vùng dậy. Hai vợ chồng nhường các con cả nồi cháo, rồi đành gạt nước mắt, bí mật đưa chúng vào rừng tự kiếm sống. Năm sau được mùa, họ vội vào rừng tìm các con. Nhưng, "Cô chị cả đã hoá thành khỉ kêu/ Cô chị hai thành vượn hót mặt đỏ/ Còn thằng Căng và thằng Khằng đã thành con dím, con dũi đào đất làm ổ sâu"5... Cư lặng lẽ rời bọn trẻ, đi sâu vào bản hoang, lòng xáo động bởi câu chuyện vừa sống dậy sau nhiều năm quên lãng... Nhưng chiếc túi thổ cẩm giờ nhẹ tênh, bước chân anh sao trĩu nặng. Anh có quyền quay trở về. Vẫn còn kịp. Không ai trách móc, phê bình hết. Thậm chí, có người sẽ vỗ tay hoan hỷ... Còn vợ anh thì sẽ chỉ cấu véo trách yêu vì đã để chị mất oan một đêm lo âu thót tim! Cái vụ này, quả là mình ăn gan Trời. Mặc dù vẫn lễ phép, nhẫn nhịn, song cái ý chí sắt đá của mình khi đề nghị bỏ cưỡng chế, đã khiến không ít vị chưng hửng, thậm chí kinh ngạc. Hôm đó, sao mình hăng thế. Còn thề thốt đủ thứ... Nhưng ai dám bảo là mình đã sợ hãi? Dớ dẩn! Cư lấy ra chiếc đèn pin, sốc lại chiếc túi thổ cẩm nhẹ hều trên vai, thầm tiếc đã bỏ cuốn sách và con dao ra. Bạn Cư làm luận văn thạc sĩ về kịch Sê-khôp, từng kể một nguyên lý kịch học: nếu có một khẩu súng treo ở đầu cảnh một, thì tới cảnh năm, nhất định nó phải nổ súng. Nhưng đó là kịch! Con dao sẽ chỉ cần thiết cho đúng khoảnh khắc này, chỉ giúp làm nặng thêm cái bờ vai không phải lúc nào cũng đủ tự tin như mình... Dớ dẩn nốt! Cư nảy cảm giác liều lĩnh, bất cần. Những ánh mắt thương hại, sự dè bỉu coi thường của mọi người trong Ban, kể cả của vợ con anh nữa, bỗng dưng khiến anh sôi tiết. Cư soi chúc đèn pin, khum bàn tay che bớt sáng, chậm rãi bước về phía hai ngôi nhà mà vài giờ trước anh quan sát được từ xa. Ve rừng bắt đầu nhưng nhức hòa âm giữa không gian đen kịt. Loài ve đã nhập vào các phi bản, phi mường (hồn ma) đây, định dọa ta chắc? Đừng có hòng! Nhưng một tiếng chim đêm cô độc cất lên khắc khoải khiến Cư chợt nao lòng, rã rời ý chí... Một bà mẹ đi đào củ mài, vì quá mệt và đói nên cắm đầu chết trong hố củ. Đứa con nhỏ ngồi chờ phía trên cứ gọi mãi, giục mãi mẹ về cho em bú, rồi nó biến thành con chim đêm. Có phải là loài chim này không? Đừng hủy hoại nốt lòng dũng cảm ta vừa vun lại được! Cư tắt đèn pin, nấp sau một gốc cây để lấy lại tinh thần, và để mắt quen với đêm tối, quan sát địa hình. Anh căng mắt nhìn ánh đèn dầu hắt qua các cửa sổ của hai ngôi nhà sàn truyền thống, trong đó một nhà từng được phá để di dời, rồi chính nó được dựng lại sát kề nhà hàng xóm thành thế liên kết, dù mong manh vẫn là đáng kể. Chúng xếp hàng ngang trước mắt, vì thế anh không thể nhìn thấy bốn cửa ra vào phía bốn đầu hồi, trong đó có một cửa bên quản, một cửa bên chan phải được nối với nhau bằng ván- nếu bọn trẻ nói đúng. Ở mấy cửa sổ, hình như nổi lên các bao cát để kê nòng súng, và để tránh đạn. Trẻ con không biết bịa! Chà! Thành một vế tục ngữ mới được đấy, kiểu như: "Trẻ con không biết mệt, con gái không biết đói"... Ờ, làm người ai mà chẳng biết đói, biết mệt! Nhưng ở các vùng quê nghèo quen tự cung tự cấp xưa nay, mối quan tâm hàng đầu là “khẩu đón, tón pa khao”(gạo trắng, miếng cá bạc), mà hoàn cảnh lại khắc nghiệt, thì vô tình phụ nữ và trẻ con bao giờ cũng phải chịu đựng, chịu thiệt thòi nhiều nhất... Mai về, đọc câu tục ngữ cổ này cho vợ nghe, xem gái Thái mang danh trí thức hiểu tới đâu? "Ngày mai" lập tức kéo anh một cách phũ phàng về đáy thực tại "Ngay lúc này". Cư dụi mắt để có thể quan sát kỹ hơn hiện trạng "pháo-đài-nhà-sàn" chưa từng có ở vùng này, kể từ thời mưa máu chinh chiến vùng Thập châu. Ừ, mà sao mình lại có vẻ dấm dúi thế? Hãy làm khách đường hoàng. Chuyện gì xảy ra chưa biết, nhưng trước tiên hãy để họ có cơ hội thể hiện là người dân miền núi quý khách, trọng khách như luật tục bao đời. Cư bước tới giữa hai ngôi nhà, cất giọng nói to:
- Có ai ở nhà không ạ?
Ánh sáng đèn dầu lay động. Tiếng dẫm sàn nứa cót két. Một tiếng nói trầm trầm tựa dưới Âm ty vọng ra từ mép cửa sổ:
- Ai vậy ?
Nghe giọng đoán tuổi, Cư đáp:
- Ải lung (bác, anh) , em ở mường xa tới, xin miếng cơm ngụm nước!
- Vậy à? Mời lên sàn.
- Lên thang nào đây ạ ?
 Nếu tự cho là khách quý, lên đằng quản !
May rồi, như thế là mình sẽ được tận mắt nhìn thấy tấm ván liên kết phòng thủ của hai nhà. Sẽ chủ động khi xảy ra sự cố. Và có dữ liệu cụ thể cho bản báo cáo... Cư bước tới giữa hai ngôi nhà, chậm rãi bước lên thang quản ngôi nhà bên phải, anh nhìn thấy một tấm ván lớn lao từ bên quản nhà này sang chan nhà hàng xóm một cách chắc chắn. Quả là một sự đoàn kết sống mái, không kém mọi cuộc uống tiết ăn thề!
Bữa cơm rượu đãi khách được bưng ra trên một mâm gỗ lên màu thời gian trộn bồ hóng. Dòng rượu táo mèo phản chiếu đèn dầu hỏa và lửa bếp sàn sóng sánh tựa mật ong. Chủ nhà không hỏi anh từ đâu đến, làm gì, ông chỉ lặng lẽ uống và nhiệt tình rót như lâu ngày mới có khách tới thăm. Ông hàng xóm cũng được mời sang ngồi mâm. Sau mấy chén, họ mới trò chuyện dè dặt. Khi biết chủ nhà vốn là một ông mo, Cư hơi nao núng. Trời ạ, thuyết phục sao nổi một người đang làm chủ văn hóa cả mường bản!... Ông kể, ông chia một nửa gia đình tới vùng tái định cư cách đây gần trăm cây số để thăm dò trước. Nhưng nơi đó quá lạnh, lại ở nhà làm toàn bằng bê tông nên càng lạnh, vườn tược không có. Gia đình được phân một lô chè và hai con bò sữa. Sau hơn nửa năm bỡ ngỡ trong lĩnh vực làm ăn hoàn toàn mới, lại chưa được hướng dẫn kỹ thuật đầy đủ, bò ốm chết, gạo tạm ứng hết sạch, đành phải kéo nhau về, kết với một gia đình cùng cảnh ngộ ăn thề trụ lại. Còn mấy gia đình khác cũng quay về, chấp nhận cảnh di vén theo mực nước, bất kể nơi đó có điện, nước, trạm xá, trường học hay không; nhưng họ không nằm trong diện bị cưỡng chế...
Khi chủ khách đã ngà ngà, ở buồng giữa chăng màn đen, lời “khắp” của một người đàn bà vọng ra: “À…ới…ì... Rượu này là rượu tình rượu nghĩa, không phải là rượu phản rượu thù...”  Cư giật mình bay hết rượu. Câu hát có ẩn ý gì đây ? Họ đoán được mục đích của mình? Không phải! Mình trở nên đa nghi, cảnh giác từ bao giờ vậy? Nhưng đó là bài hát đầu cuộc rượu, sao đến lúc này mới hát? Một đòn tâm lý thăm dò? Cư vội lắc đầu nhẹ để tự xóa bỏ cái ý nghĩ có phần thiếu lương thiện. Chính mình là kẻ đã đến đây trong tâm địa dò tìm địch thủ trước, trong khi lẽ ra phải là một người bạn chỉ mang tới điều họ hằng khao khát: tình và nghĩa. Việc họ phải trang bị cả súng cho việc cố thủ, có lẽ chỉ là một phản ứng tuyệt vọng, bị dồn tới cùng đường, sẵn sàng buông hết cho số mệnh...
Trong lúc Cư đang miên man với bao ý nghĩ dằng xé gay gắt, ông mo đã từ góc nhà quay lại, mang theo trên tay mấy cuốn vở học sinh. Ông hàng xóm cáo lỗi ra về. Lúc ông ta đứng lên chào, Cư có cảm giác hai người làm dấu hiệu gì đó với nhau. Những bao cát phía sau lưng Cư là đồng lõa nham hiểm, chúng lầm lỳ lắng nghe để giải mã lời chủ nhân:
- Về Mường Húa, tôi ghi lại được một bản chiêu hồn quý lắm nhé! Cậu thích nghe không?
- Em chưa được biết văn bản này của người Thái ta, nên chắc cái gì cũng lạ, cũng thích...- Cư hồi hộp, nghe rõ từng hơi thở của mình.
Thế là ông vừa đọc vừa hát bằng cái giọng khê nồng song truyền cảm, về hành trình chiêu hồn của một ông mo mường xưa từ các tầng của mường Trời tới nhiều nơi dưới trần gian... Đúng nghề đúng việc cũ, lại gặp người thích nghe, không coi lời Mo khuôn là vô bổ, nhàm chán, ông có thể hài lòng sống qua một đêm chờ đợi dường vô tận.
Các trai và đoàn gái ta ơi
Niết Bàn dù cao sang chớ ở
Không cùng lứa đôi chớ nằm với nhau
Ma chia ruộng cho chớ làm
Ma chia rẫy chia nương chớ lấy
Ma phần phai cho chớ ngăn...
Người dân ai cũng muốn phân biệt rõ hồn ma tốt hồn ma xấu để soi lại cõi đời mình; và người hướng đạo phần hồn - các ông mo, hơn ai hết phải nhận chân sự thật nhằm giúp cho hồn dù ở trên trời hay nơi hạ giới, cả người chốn dương gian tránh bớt rủi ro, bất hạnh... Đối tượng của Cư lâu nay chính là những con người vốn có mơ ước cuộc sống bình dị, như các hồn của "Mo Khuôn" kia đang dung dăng dung dẻ đi qua sướng khổ của kiếp người, kiếp ma, với niềm tin chất phác: những ai đã làm điều thiện khi sống, thì lúc chết, không trước rồi sau sẽ được hóa thành vì sao sáng; còn những kẻ làm trái đạo người sẽ bị Then Xội trừng trị, bị nhốt vào cõi u minh vĩnh viễn... Ở cảnh ngộ nào, họ cũng lạc quan: "Dù miếng ăn còn nắm đầy nắm vơi, nhưng lúa gạo ở dưới đất, thức ăn ở trong rừng...". Nhưng anh và các cộng sự đã có đủ khả năng thuyết phục nổi những người đã mang nặng tâm lý bao đời: "Mười bản không bằng bản rụng rốn, mười mường chẳng bằng mường chôn nhau"?
Ngừng đọc một chút, ông cất giọng buồn hơn cả tiếng pí-thiu5 đêm vắng:
- Cậu biết không, nhiều nơi đẹp đẽ hồn đi qua, và cả nơi sinh ra bản Mo hồn này cũng sẽ chìm mãi trong nước lạnh...
Cặp mắt mờ đục của ông ư ứ nước. Ý chí Cư bị quật ngã, anh nôn nao say sóng. Phải chăng, đây mới là nguồn cội chính của mọi việc?... Ông chủ nhà chợt cắt ngang tâm tư xáo trộn của Cư:
- Cậu nghe nữa không? Lúc nãy là hành trình mường Trời. Giờ mới là hành trình Hạ giới...
Cư gật đầu lia lịa.
- Vâng, vâng, ải lung chưa mệt thì em còn muốn nghe. Ít khi em có dịp...
Ông lại khề khà, nửa đọc cho người nửa cúng ma cho hồn với đầy đủ lễ vật, kèn pí-lao, đèn nến lung linh trước mặt một mo mường. Trong khi hồn được dẫn qua các địa danh cả xa lạ lẫn quen thuộc đối với Cư - Mường Khiêng, bản Hốc, đồng Pụa, Mường Bon, bản Mòn..., Cư chợt hình dung cảnh những con bò sữa đã biến thành bò rừng gầy guộc run rẩy, đi ngơ ngác giữa những ngôi nhà xây cứng đờ theo kiểu doanh trại, không hề có những mảnh vườn thân thiết với phụ nữ, trẻ em, những lô chè mướt xanh hóa lùm cây dại, cỏ hoang trùm lấn... Hiện trạng này thực ra cũng đã được khắc phục khá nhiều. Nhưng nơi đó còn biết bao gian nan đang đón đợi. Nhiều điểm tái định cư khác tuy có thuận lợi hơn, song chuyện xóa đói giảm nghèo thực sự, vẫn còn là nỗi đau đầu. Rồi những kẻ bất lương cấu kết với không ít cán bộ đã lưu manh hóa, tuồn hàng rởm, hàng Tàu kém chất lượng tràn ngập nhiều làng bản chưa kịp hồi sinh, nhẫn tâm vơ vét những đồng tiền ít ỏi được đền bù của dân, ăn chặn đồ viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ, khiến đời sống của họ đã bấp bênh lại càng thêm cơ cực, khốn khó...
- Này, cán bộ!...
Tiếng của một người phụ nữ tựa tiếng thanh la xóc vào tai Cư. Anh choàng tỉnh. Chị tuổi ngoài năm mươi, dáng sắt lại như lõi cây rừng, mái tóc tằng-cẩu6 gọn ghẽ chắc chưa hề được gỡ ra đêm nào suốt những ngày qua. Chị đăm đăm như soi vào mắt Cư.
- Cậu vừa khóc đấy à? Sao lại khóc ở nhà anh chị?
Giọng chị bớt căng, và chuyển sang lối xưng hô thân mật gia đình của người Thái. Cư ngỡ ngàng vì điều đó, mà cũng vì xấu hổ. Đúng là anh đã chảy nước mắt tự lúc nào. Cư vội lấy tay quệt hai má.
- Dạ... Chắc là do  khói bếp đấy ạ...
- Cậu đừng giấu chúng tôi! Cậu là người của Ban di dân tái định cư! Cậu tới đây để lại vận động chúng tôi chứ gì?- Giọng người phụ nữ bỗng đanh lại.
Cư chết lặng. Anh đã lộ chân tướng. Một cách bị động. Một cách nhục nhã. Cư muốn hét lên: "Phải đấy! Thế thì sao? Anh chị có biết sự ngoan cố của anh chị đã khiến bao người thêm vất vả, biết bao thời giờ quý báu bị mất, nước hồ thì sắp dâng lên...". Nhưng Cư bị chẹn ngang họng. Một con thú mắc bẫy giương mắt nhìn người săn. Giọng người phụ nữ trở nên nhẹ nhàng, song Cư có cảm tưởng chị đang bỡn cợt một con dũi trong lồng trước khi lôi ra làm thịt:
- Có đứa trẻ báo... Nó được trả công hàng ngày mà! Chúng tôi đếm từng khắc chờ cậu đến, nhưng không mong chờ cậu sẽ lại tuyên truyền những thứ ai cũng thuộc làu đâu!
Như đọc được ý nghĩ của Cư vừa lóe lên, người đàn ông tiếp lời:
- Chúng tôi cũng không chờ đợi sự đe dọa lẫn những lời hứa hẹn. Mà cần ai đó hiểu cho: chúng tôi mệt mỏi lắm rồi. Cũng sợ chứ! Sợ đổ máu. Sợ phạm pháp... Nhưng hai tuần qua, ngày một thất vọng. Lại nghe ngóng là sẽ cưỡng chế, nên bảo nhau chuẩn bị sẵn sàng cùng sống chết...
Mồ hôi Cư toát đầm lưng áo. Ông chủ nhà thủng thẳng:
- May là cậu không nói ra những điều chúng tôi chẳng mong đợi...
Người phụ nữ tranh lời chồng:
- Có đấy, có điều chẳng mong đợi đấy!
Cư ngước mắt nhìn chị. Chị mỉm cười, nụ cười mệt mỏi còn hằn vết lo âu, sợ hãi nhiều ngày qua:
- Chính là nước mắt của cậu đấy!...
            Và chị cũng chảy nước mắt thương cả cho mình nữa.
Cư bật đứng dậy, lóng ngóng nhét lại áo vào thắt lưng để kìm nén một cảm xúc đột ngột khiến anh mất tư thế- điều thực không xứng đáng đối với một cán bộ không còn trẻ trung gì nữa, lại trước người dân dù sao cũng đang "có vấn đề". Anh lúng búng:
- Em... Em quấy rầy anh chị lâu quá rồi... Anh chị và bà con yên tâm. Sẽ không bao giờ có một cuộc cưỡng chế nào hết! Nhưng...- Cư ghìm lại được, và thầm tiếc chót nói từ "bà con" đậm tuyên huấn trước đông người - Nhưng... sao em không thấy con cháu anh chị ở nhà?
- Một nửa trực nhà, chúng đang đi săn... Một nửa đến những lều canh nương. Đang vụ mà - Bà chủ nhà nhanh nhảu.
Bỗng một tiếng súng nổ dội vào vách đá chát chúa. Cư giật bắn mình. Ông chủ nhà cau mày:
- Chắc thằng út hạ được cầy bay rồi... Lâu lắm, chúng mới về bản! - Ông quay bảo vợ- Tôi đã nói mà chúng nó không nghe à? Nếu có đi săn, thì bằng nỏ và bẫy thôi nhé!
Rồi ông đứng lên nói với Cư :
- Cậu cứ về đi đã!
- Thế gia đình anh chị sẽ di dời chứ?- Cư nóng ruột.
            Ông chủ nhà quắc mắt, hơi sẵng giọng:
- Cậu cẩn thận đấy! Về nhà đi! Mọi việc đâu có đó!- Ông chợt trầm ngâm- Chúng tôi đến chỗ nào cũng được, miễn là nơi đó áp dụng được lời có vần của ông cha: "Mất của dễ tìm, mất lòng khó kiếm..."
      Khi xuống sàn, Cư mới có dịp quan sát, dù chỉ trong vài giây- khẩu súng kíp treo sát cửa sổ. Và lần đầu tiên anh mới thấy khâm phục, tự hào trước kỹ thuật kỳ lạ cùng sự kiên nhẫn phi thưòng của người vùng cao: cái nòng thép đã được khoan bằng sức nước chảy ngày đêm suốt một năm ròng...
              Viết thêm                                      
Cuộc cưỡng chế đã không diễn ra, bởi Cư đã có cam kết với lãnh đạo thế nào đó. Mười ngày sau, ông mo Khem mang lên nộp hai khẩu súng kíp và thuyết phục được tất cả các gia đình bản Púng Lầm còn lại tới nơi tái định cư. Và Cư phải viết báo cáo. Nhưng anh chật vật cả tuần liền. Anh không biết phải kể lại những gì. Về mối thương tâm của đôi vợ chồng nhìn các con biến thành thú vật trong rừng, hay về cô gái bỏ chồng thản nhiên dạo chơi chẳng che vú trong những câu hát đưa hồn giúp anh lật ngược thế cờ? Về thái độ kiêu ngạo của một số người máy mê tín khẩu hiệu tuyên truyền, hay nỗi xót xa căm giận của anh trước những việc hủy hoại lòng tin của người dân đã nghèo đến độ không còn gì nữa ngoài niềm tin?... Dù sao thì anh cũng không thể viết như mọi khi được nữa, như mọi người vẫn viết và mong nhận được từ anh.
___________________________
1. Tức Mo Khuôn- một tác phẩm cổ nổi tiếng của dân tộc Thái Tây Bắc (Vương Trung dịch)
2. Vật đựng cơm xôi làm bằng giang, mây
3. Trường ca dân gian Thái "Xống chụ xon sao" (Tiễn dặn người yêu- Mạc Phi dịch)
4. Dân ca Thái Tây Bắc (Cầm Trọng kể)
5. Một loại sáo dọc của người Thái
6. Theo phong tục, phụ nữ Thái đen có chồng búi tóc lên cao, gọi là tằng cẩu.
                                                                                                       

                                      Tây Bắc- Hà Nội, cuối năm  2014

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

Tứ tuyệt Tháng Tư



Em ở nơi xa có biết không
Tháng Tư cháy bỏng nỗi chờ mong
Vừa tàn lụi hết trời hoa gạo
Anh lại thắp lên ánh phượng hồng .


                                   Phạm Đức Nhị